»

Một cách nhìn từ biển: Bối cảnh vùng duyên hải miền Bắc và Trung Việt Nam

Thứ ba - 24/05/2016 20:15
Thông qua cái nhìn hướng biển, bài viết này nhằm đánh giá lại những quan niệm về biển vốn được coi là truyền thống của các học giả Việt Nam. Khu vực biển nói ở đây chính là khu mậu dịch thuộc vịnh Bắc Bộ, kéo dài từ đảo Hải Nam đến Bắc Champa theo đường biển, tới Vân Nam và Lào theo đường bộ. Sự tương tác lẫn nhau, cũng như các hoạt động thương mại của cư dân trong vùng giữ vai trò cốt yếu trong việc hình thành quốc gia Đại Việt.
 
Một điểm đáng lưu ý trong nhận thức của người Việt đó là, mặc dù một phần ba lãnh thổ Việt Nam là bờ biển, nhưng các nhà sử học vẫn kiên định với ý kiến cho rằng Việt Nam, cũng như Lào và các quốc gia Đông Nam Á lục địa khác, là những thể chế dựa hoàn toàn vào khai thác đất đai nông nghiệp[1]. Bài viết này sẽ nhìn nhận Việt Nam từ phía biển thay cho cách nhìn truyền thống coi ruộng đất như là nền tảng đối với miền Bắc Việt Nam. Như sẽ trình bày dưới đây, vùng vịnh Bắc Bộ là một phần mở rộng và tiếp giao không thể thiếu của khu vực được gọi là Giao Chỉ Dương. Đó là một khu vực buôn bán năng động nằm ngay trung tâm của con đường thương mại cổ phía Tây tồn tại cho tới thế kỷ XV, và là điểm lui tới thường xuyên của các thương nhân Hồi giáo từ phía Nam, Tây và Đông Nam châu Á. Vùng thương mại này bao gồm vùng duyên hải Quảng Tây (Guangxi) phía giáp với vịnh Bắc Bộ, vùng duyên hải của Đại Việt, Bắc Champa và đảo Hải Nam.
Những tiếp xúc khá thường xuyên và mạnh mẽ giữa các thực thể trong khu vực này như sẽ trình bày dưới đây phản bác lại quan điểm vốn thừa nhận rằng, mặc dù về địa lý các chính thể này nằm cạnh nhau nhưng giữa chúng ít có sự giao thoa với nhau cả về kinh tế lẫn văn hoá. Không phải ngẫu nhiên mà các trung tâm chính trị, tôn giáo, và văn hóa xuất hiện đồng thời vào thế kỷ XIII ở khu vực này, và tạo điều kiện cần thiết cho sự ra đời và phát triển của ngành sản xuất gốm sứ - mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong giai đoạn này. Thông qua vai trò trung gian vận chuyển của thương nhân Hồi giáo, gốm sứ nhanh chóng trở thành những mặt hàng được biết đến trên thị trường thế giới. Sản xuất gốm sứ hưng thịnh kéo theo sự phát triển của nhiều ngành nghề khác. Chính vì thế, ngành sản xuất gốm sứ cần phải được xem xét một cách kỹ lưỡng dưới nhiều góc độ, hơn là việc chỉ tìm hiểu qua loa trên khía cạnh kinh tế thuần túy. Khi tìm hiểu các hoạt động buôn bán và sản xuất, chúng ta phải chú ý đến hoạt động của các chủ thể tức là những con người trong khu vực tham gia vào hoạt động kinh tế đó. Thông qua đây, một bức tranh đa dạng về hoạt động của các cư dân được phá hoạ chắc hẳn có nhiều khác biệt so với ngày nay.
1. Giao Chỉ dương và tầm quan trọng của miền Trung Việt Nam
Trái ngược với nhận thức phổ biến rằng, quan hệ giao thoa giữa Giao Chỉ và Trung Quốc được tiến hành bằng đường biển thông qua vịnh Bắc Bộ. Cho đến thời Đường, sự giao lưu giữa Trung Quốc và Giao Chỉ gặp rất nhiều khó khăn vì sự cản trở của những dải đá nằm dọc ven biển. Điều này giải thích tại sao Mã Viện, Phù Ba tướng quân của nhà Hán, phải “đào núi để thông ra biển” trong cuộc bình định Giao Chỉ thế kỷ I Sau Công nguyên. Những trở ngại về giao thông chỉ thực sự được khắc phục vào thế kỷ thứ IX, khi Cao Biền cho dời những khối đá này đi[2].
Những khó khăn trong giao thông của vịnh Bắc Bộ tạo điều kiện để miền Trung Việt Nam, phần lãnh thổ thuộc Nghệ Tĩnh ngày nay, có vị trí quan trọng trong tuyến giao thương đường biển của khu vực. Theo đường biển sẽ tới Hải Nam, Phúc Kiến (Fujian) và Quảng Đông, trong khi con đường bộ vượt sẽ vượt qua dãy Trường Sơn tới khu vực được người Trung Quốc gọi là Lục Chân Lạp (Lu Zhenla) – khu vực thuộc phía Nam Lào và/hoặc phía Bắc Campuchia- rồi tiến ra biển. Đây là con được bộ nổi tiếng vào thế kỷ thứ VIII[3]. Điều đáng chú ý là, khi nhìn trên bản đồ, con đường này nối thông với con đường thương mại phía Tây, vốn là tuyến giao thương huyết mạch giữa Trung Quốc và Ấn Độ Dương. Trong khi, con đường phía Đông, được sử dụng bởi người Hoa và người Đông Nam Á, chỉ thật sự phát triển vào giai đoạn sau. Vì vậy, không giống như những thương nhân sau này, các thương nhân đến từ Ấn Độ Dương thường xuyên kết hợp giữa đường biển và đường bộ, và miền Trung Việt Nam chính là cầu nối quan trọng.[4] Khu vực rừng núi hiểm trở thuộc Bắc Trung Bộ và vịnh Bắc Bộ ngày nay trên thực tế nằm trên con đường thương mại phía Tây.
Miền Trung Việt Nam đóng vai trò đồng thời là cầu nối giữa Campuchia và Nam Trung Hoa. Điều này giúp chúng ta giải thích tại sao các vị vua Khmer thường gửi cống phẩm đến Đại Việt (19 lần) nhiều hơn đến nhà Tống (5 lần). Những thương nhân hoạt động trên con đường thương mại này được đề cập đến trong những bản văn khắc của Khmer giai đoạn sớm dường như là những người Việt cổ, chẳng hạn như văn khắc vào năm 987 tìm thấy ở hạ Mekong.[5] Bằng chứng cho thấy miền Trung Việt Nam có vai trò như là tuyến đường thủy nối với Giao Chỉ cũng có thể bắt gặp trong câu chuyện về nhà vua An Dương Vương vào thế kỷ thứ II Trước Công nguyên. Ông bị quân của Triệu Đà truy đuổi, “ông chạy đến cửa biển và không thể tìm thấy thuyền để trốn thoát”; điều rất đáng chú ý là nơi nhà vua trẫm mình chính là vùng Diễn Châu, Nghệ An.[6]
Chính vì lẽ đó, gần như chắc chắn một điều rằng, miền Trung Việt Nam là cửa ngõ cho các hoạt động giao thông đường thủy trong khu vực, nơi mà hầu hết thương nhân, khách hành hương, và các đoàn triều cống đặt chân tới trước khi theo đường sông đến Giao Chỉ (Việt, Giao Châu). Tuyến giao thương này có thể được sử dụng bởi thương nhân tới từ Nam Á và Trung Á. Trong khi đó, hành trình giữa Giao Châu và các vùng phía Nam chỉ thu hút được những loại thuyền bè nhỏ, đặc biệt là những thuyền do thuỷ thủ người Việt làm chủ, như theo đánh giá của wang Gungwu.[7] Họ (người Việt) đóng vai trò vận chuyển hàng hóa từ những tàu lớn tới từ Trung Đông và Nam Á. Đây chính là cách mà người Việt tham gia vào hoạt động thương mại ở Đông Nam Á tồn tại cho đến thời Đường.
Những mối liên hệ lịch sử giữa miền Bắc và miền Trung được giải thích bằng những thuật ngữ mơ hồ của người Hoa, tuy nhiên, nó cung cấp những thông tin quan trọng giúp chúng ta hiểu về khu vực này. Thế kỷ XIII xuất hiện thuật ngữ Giao Chỉ Dương, có nguồn gốc từ thuật ngữ Giao Chỉ, tên cổ mà người Hoa gọi Đại Việt. Tuy vậy, thật khó có thể xác định rằng thuật ngữ này ám chỉ vịnh Bắc Bộ hay vùng biển dọc duyên hải miền Trung Việt Nam. Trong phần lớn tư liệu, nó dường như ám chỉ miền Trung Việt Nam và không bao gồm vịnh Bắc bộ, trong khi một số tư liệu khác lại ám chỉ cả hai vùng[8].
Trong sự mập mờ của thuật ngữ này, dường như bây giờ luôn có một ký ức lịch sử ghi nhận sự hợp nhất của hai khu vực vùng duyên hải miền bắc và miền trung Việt Nam.  Mặc dù điều này chưa bao giờ được giải thích một cách rõ ràng, khu vực vịnh Bắc Bộ rất có thể là sự mở rộng của Giao Chỉ Dương, một vùng biển chạy dọc miền Trung Việt Nam, là trung tâm của lộ trình giữa Đông và Tây trong suốt hàng nghìn năm.
Có một vài điểm cần phải chú ý đến thuật ngữ Giao Chỉ Dương. Đầu tiên, nó xuất hiện phần lớn trong nhật ký đi biển của người Hoa trong khoảng từ giữa thế kỷ XIII đến thế kỷ XVI, nhưng chưa bao giờ xuất hiện trong các văn bản chính thức hay trong các cuốn sử biên niên. Điều này phải chăng ám chỉ mối liên hệ gần gũi của thuật ngữ này với giới tư thương người Hoa, lái buôn và có thể là hải tặc.Thứ hai, thuật ngữ chỉ xuất hiện vào thế kỷ XIII và không sớm hơn. Trong khi thuật ngữ này dường như phản ánh những tiến bộ trong nhận thức của người Hoa về thương mại biển thời Tống, thì ở vịnh Bắc Bộ sự chuyển biến này đã được thiết lập từ thời Đường. Cả hai yếu tố này đóng vai trò rất quan trọng để chúng ta có thể hiểu được khu vực này, và chỉ trong bối cảnh này vùng buôn bán Giao Chỉ Dương mới tồn tại.
Phần tiếp theo của bài viết này sẽ đề cập đến vấn đề thương mại trong vùng, đặc biệt là hoạt động buôn bán nô lệ, ngựa và muối. Hoạt động buôn bán này trải dài trên khu vực từ Vân Nam (Yunnan) và Quảng Tây của Trung Quốc đến Champa - miền Trung Việt Nam ngày nay, và từ vùng núi đến vùng biển. Nghiên cứu này chắc chắn giúp chúng ta hiểu rõ hơn về khu vực Giao Chỉ Dương trong hoạt động hải thương khu vực, vai trò của thương nhân Hồi giáo trong lịch sử Đại Việt cũng như bức tranh về lịch sử khu vực. Những bằng chứng dưới đây cho thấy mức độ lệ thuộc về hàng hải tương đối cao vốn là đặc trưng của kinh tế Đại Việt cho tới thế kỷ XV.
2. Thương mại vùng và vùng Giao Chỉ Dương
2. 1. Buôn bán nô lệ
Trong khi chắc chắn rằng, thương nhân Champa tham gia một cách tích cực hoạt động buôn bán nô lệ, thì hầu như không có nguồn tài liệu nào đề cập đến việc Đại Việt là nơi tiêu thụ quan trọng cho mặt hàng đặc biệt này. Một bản ghi chép của Trung Quốc vào thế kỷ XIII về cuộc sống và phong tục của Quảng Tây và vùng vịnh Bắc Bộ cho biết:
Có ít dân bản địa trong quốc gia này (Đại Việt), bởi vì một nửa dân số là người Quảng Đông và Quảng Tây. Thương nhân thường xuống phía Nam giả vờ mua người bản xứ làm người hầu, nhưng khi đến vùng núi họ trói những người này lại và bán cho những người ở đó. Giá là hai lượng vàng một người. Những người vùng núi lại bán cho người Giao Chỉ với giá là ba lượng vàng. Hàng năm có thể hàng trăm, hàng nghìn người bị bán. Đối với những người có kỹ năng về một ngành nghề nào đó, giá có thể lên gấp đôi, đặc biệt nếu họ biết đọc và biết viết giá tiếp tục tăng gấp đôi thêm lần nữa[9].
 
Một tác phẩm khác cùng thời là bộ Lĩnh ngoại đại đáp (Lingwang daida) biên soạn vào thế kỷ XIII, viết về mối quan hệ giữa buôn bán vàng và buôn bán nô lệ ở Giao Chỉ, sách chép: “cư dân Giao Chỉ có nhiều vàng vì vậy họ có điều kiện mua người của chúng ta (ở Quảng Tây) để làm nô lệ”. Khi chúng ta kết hợp hai văn bản này với nhau chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về đoạn ghi chép trong một nguồn tư liệu cùng thời là Chư phiên chí (Zhufanzhi). Nội dung của đoạn trích như sau: “Lễ hội lớn nhất của quốc gia (Đại Việt) vào ngày Rằm tháng bảy, khi các gia đình gửi biếu quà cho người khác. Quan lại địa phương dâng shengkou (nô lệ) cho nhà vua, và nhà vua sẽ chiêu đãi lại một bữa tiệc vào ngày mười sáu ”.[10] Thời gian này, quan lại địa phương hẳn coi nô lệ như một món quà quý, và họ biết họ sẽ được thưởng vì việc dâng những món quà có giá trị này.
Nguồn chính sử của Việt Nam tiết lộ thêm thông tin về tầm quan trọng của nô lệ thời nhà Lý (1009 - 1225), bổ sung cho những ghi chép của Trung Quốc như đã trích dẫn ở phần trên. Theo bộ Đại Việt sử ký toàn thư, phép thuật kỳ lạ của một nô lệ từ Đại Lý (Vân Nam) được sử dụng trong âm mưu ám sát hoàng đế Lý Nhân Tông vào năm 1096.[11] Thông tin này trùng khớp với những nguồn tư liệu của Trung Hoa cho rằng những nô lệ có tài thì rất có giá và những nô lệ đó thường đến từ phương Bắc.
Hiện tượng bắt nô lệ giải thích việc trao đổi thư từ qua lại giữa nhà Tống - Trung Quốc và triều Lý - Đại Việt liên quan đến việc bắt và trao đổi tù binh. Không thể nghi ngờ rằng, việc thiếu nhân lực ở Đại Việt là một phần hệ quả của hoạt động này. Một số nô lệ Trung Quốc sẽ trở thành binh sĩ trong quân đội Đại Việt, tuy nhiên một số khác bị bán lại cho thương nhân ngoại quốc, những người thường xuyên đến Đại Việt, mà điểm đến cuối cùng của họ là Champa.[12]Nô lệ là mặt hàng chính được vận chuyển bởi những thương thuyền đến từ vùng biển phía Nam (Nanhai po). Những chủ thuyền này thường là thương nhân ngoại quốc, và nhiều khi họ mang cả những nô lệ da đen, được biết đến với cái tên Kunlun nu tới Trung Quốc như một trong những mặt hàng quý hiếm[13].
Có thể tìm thấy dấu tích của hiện tượng bắt nô lệ từ chính trường hợp của vị vua Fan wen (331 - 49) của Lâm ấp, tiền thân của Champa sau này. Theo một nguồn tư liệu cổ Trung Quốc Thủy kinh chú (Shuijing zhu), Fan wen là người gốc Hoa, ông ta đến từ Yangzhou, thuộc đồng bằng châu thổ sông Dương Tử (Yangzi). Ông ta bị bắt làm nô lệ khi còn rất trẻ, sau đó bị đem bán ở Giao Châu và cuối cùng những thương nhân người Chăm mang ông về Lâm ấp. Một thời gian sau, ông ta trở thành tể tướng và trên thực tế trở thành vua của Lâm ấp. Phần lớn nguồn tư liệu liên quan đến Fan wen đều chứng minh ông là người Hoa nhưng bỏ quên sự kiện ông ta bị bắt và bị bán làm nô lệ đến Giao Châu trước khi được mang đến Champa, chắc là họ tưởng điều này là ngẫu nhiên[14]. Tuy nhiên, khi đặt sự kiện này trong bối cảnh lịch sử trên, nó cho chúng ta thấy rằng hoạt động buôn bán nô lệ đã diễn ra hàng thế kỷ trong khu vực này. Và hoạt động này gắn liền với vai trò của người Hoa và thương nhân ngoại quốc. Đối với hoạt động buôn bán nô lệ, Giao Châu đóng vai trò như là một bước đệm, nếu không muốn nói là một thị trường nô lệ quan trọng
Cần phải chỉ ra rằng sự thịnh vượng của Đại Việt thế kỷ XIII phải gắn liền với hoạt động buôn bán nô lệ. Ví dụ như danh sách cống phẩm của quốc gia đến triều đình Nam Tống năm 1156:
Cống phẩm vô cùng phong phú. Tất cả những chữ trong bức th­ư đ­ược viết bằng vàng. Có 1.200 lạng vàng cốm, một nửa trong số đó đ­ược làm với ngọc trai hoặc châu báu; 100 viên ngọc trai đựng trong bình vàng, trong đó 3 viên to như­ quả cọ, 6 viên to nh­ư nhân hạt mít, 24 viên lớn nh­ư hạt đào, 17 viên lớn nhân cọ, và 50 viên to nh­ư quả chà là, tổng cộng là 100 viên; có 1000 catties (một catty khoảng bằng 600 gram) cây gỗ lô hội, 50 chiếc lông bói cá, 850 súc vải thêu kim tuyến trang trí với rồng, 6 con ngựa cho hoàng gia có sẵn yên, cộng với 8 con ngựa khác và 5 con voi. Đoàn đi sứ tỏ ra rất tự hào với những cống phẩm giá trị của mình[15].
 
Kích thước của những viên ngọc trai như ghi chép trên tiết lộ cho chúng ta một số thông tin quý giá. Mặc dù vùng duyên hải dọc Quảng Đông và vịnh Bắc Bộ luôn được coi là nơi sản xuất ngọc trai, nhưng ngọc trai ở vịnh Bắc bộ giai đoạn sau này không được coi là tốt và lớn như của Ấn Độ. Vì thế, danh sách 50 viên ngọc trai nêu trên rất có thể có nguồn gốc từ việc buôn bán của Đại Việt với các thương nhân Nam Á. Nếu điều này là đúng thì nó gợi ý rằng, sự giàu có của Đại Việt bắt nguồn từ sự giao thương với các nước Nam Á.[16] Tóm lại, những bằng chứng đó chỉ ra cho chúng ta phần nào thấy được sự giàu có của Đại Việt thời Lý và đầu thời Trần.
2.2. Ngựa từ  Vân Nam và muối từ biển
Một mặt hàng buôn bán quan trọng khác của quốc gia Đại Việt thời Lý là ngựa. Đây là một trong những mặt hàng quan trọng nhất mà Champa mua được từ người Việt. Tống hội yếu (Song yangkao) chép rằng người Chàm đi lại “trên lưng voi hoặc kiệu được làm từ vải bông. Một số khác cưỡi loại ngựa được mang đến từ Giao Châu”. Đông Tây dương khảo (Dongxi yangkao), nguồn thời Minh, cũng xác nhận rằng: “Dưới thời Tống, Champa thường mua ngựa từ Giao Chỉ, vì thế Giao Chỉ bán ngựa như một trong những mặt hàng bản địa của nó”[17]. Ngựa không có nguồn gốc từ Giao Chỉ, mà chúng được mua từ người Man (Xuất phát từ thuật ngữ “người mọi rợ” mà người Việt và người Hoa hay gọi) sống ở khu vực Vân Nam và Quảng Tây ngày nay.[18] Những nguồn tư liệu của Việt Nam đã chỉ ra những thông tin xuất xứ của ngựa. Ví dụ như năm 1012, người Man đến châu Kim Hoa và Vị Long để buôn bán, vua Lý Thái Tổ “ra lệnh bắt giữ hơn 10.000 con ngựa”. Những cuộc vây bắt này, đôi khi được tiến hành bởi chính quan lại địa phương người Việt, và ngựa là một trong những thứ mà họ cố gắng chiếm giữ. Vào thế kỷ XIII, Việt sử lược chép rằng năm 1008 vua Lê Ngọa Triều “bản thân ông ta chỉ huy cuộc vây bắt ở hai châu Đỗ Lãng và Vị Long, bắt người Man và hơn 100 con ngựa”. Từ hai trường hợp trên cho ta thấy rằng, châu Vị Long đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp ngựa cho Đại Việt[19]. Điều này phần nào giải thích rằng tại sao triều Lý luôn quan tâm tới với vùng này và gả công chúa cho một thủ lĩnh địa phương, họ Hà.[20]
Mặt hàng phổ biến nhất mà người Việt dùng để trao đổi lấy ngựa là muối.Lĩnh ngoại đại đáp chép rằng “người Fan (giống như người Man) bán ngựa cho chính quyền hàng năm để trao đổi lấy muối và bò. Tuy nhiên, điều này làm cản trở lộ trình buôn bán ngựa”.[21] Điều thú vị là người Việt không cần thiết phải sản xuất muối, thứ mà họ dùng để trao đổi với ngựa. Việt sử lược tiết lộ rằng cuối năm 1206, phần lớn vùng duyên hải nằm dưới sự quản lý của các thủ lĩnh địa phương; ví dụ như hai vùng sản xuất muối quan trọng là Đằng Châu và Khoái Châu (thuộc hưng Yên ngày nay) trực thuộc sự quản lý của các thủ lĩnh địa phương hơn là các vua Lý. Theo quan điểm của John Whitmore, sự phân cách giữa vùng đất thượng châu thổ và hạ châu thổ của Đại Việt chỉ được dỡ bỏ vào năm 1220 như là kết quả của những nỗ lực chung giữa nhà Lý và những người kế tục họ - vương triều Trần (1225 - 1400). Đây là lần đầu tiên trong lịch sử hai vùng này được nối liền với nhau.[22]
Từ cách nhìn nhận này, chúng ta thấy rằng buôn bán ngựa là một mắt xích quan trọng để kết nối giữa vùng núi và đây chính là một phần quan trọng để cấu thành nền kinh tế Đại Việt. Chỉ trong bối cảnh này mới có thể hiểu được ví dụ như, tại sao Nam Chiếu (Nanzhao), và tuyến thương mại gắn liền với khu vực này luôn là tâm điểm chú ý của triều đình Đại Việt và Trung Hoa đương thời. Đồng thời, nó cũng chỉ ra rằng tại sao một vương quốc nằm xa xôi kinh đô Đại Việt lại có thể tấn công Thăng Long bốn lần vào các năm 846; 860; 862; và 863 và chiếm giữ kinh thành này trong hai năm (863 - 865). Sự thật thì ngựa là nguyên nhân quan trọng khiến các thủ lĩnh địa phương kêu gọi Nam Chiếu xâm chiếm lãnh thổ của họ sau khi Lý Trác (Li Zhuo), quan tổng trấn của nhà Đường ở An Nam, đòi hỏi một cái giá thấp đến mức vô lý trong việc trao đổi giữa ngựa và muối[23]. Hơn nữa, chúng ta có thể biện luận rằng những cuộc tấn công của Nam Chiếu cũng làm suy giảm lớn sức mạnh cai trị của nhà Đường và vì thế, mở đường cho người Việt giành độc lập vào năm 938. Thậm chí vào thế kỷ XII, Vân Nam vẫn giữ vị trí quan trọng đối với người Việt, đặc biệt khi hoàng thân Đại Lý (Dali) nhận một hoàng tử vốn là con của vua Lý Nhân Tông với người thiếp làm con nuôi. Vị hoàng tử này được lấy họ hoàng gia là Zhao (Triệu?), và giúp vua Đại Lý quản lý quân lính khi ông muốn giành lấy ngai vàng sau khi cha của ông ta qua đời[24].
Những ví dụ trên đây cho chúng ta hình dung Giao Chỉ như là một cảng thị mang tính quốc tế. Như đã chỉ ra, Giao Châu và Quảng Châu là hai trung tâm buôn bán lớn trong kỷ nguyên thương mại thời Đường, nhưng những gì khác nhau giữa hai trung tâm này chưa bao giờ được nhìn nhận hoặc là nhìn nhận một cách thiếu chính xác. Trong khi hoạt động của Quảng Châu chủ yếu là hải thương thì Giao Châu thiết lập mạng lưới buôn bán nội địa nối liền với Khmer, Chăm, Lào và Vân Nam. Mạng lưới buôn bán này dựa vào sự kết nối của hệ thống sông - biển, trong đó miền Trung Việt Nam giữ vị trí quan trọng. Hệ quả tất yếu là, những hàng hóa nổi tiếng của Giao Chỉ trong những thế kỷ này chiếm số đông không phải là những sản phẩm bản địa, chẳng hạn như trong danh sách cống phẩm từ Ngưu Hống (khu vực Yên Châu, Sơn La ngày nay) và Ai Lao (Lào ngày nay) đến Đại Việt năm 1067: “vàng, bạc, dầu thơm, sừng tê giác và ngà voi”[25].
   3. Biển Giao Chỉ trong bối cảnh quốc tế: Người Hồi giáo và lái thương Việt
Những thương nhân Hu, tên thường gọi của những thương nhân Nam Á và sau này có thể là cả thương nhân Trung Đông (thuật ngữ Hu có thể cũng được hiểu là Hồi hay Hồi Hột) cũng có những quan hệ mật thiết với Đại Việt. Từ thời Hán, thương nhân Hu được khuyến khích đến Giao Chỉ, bởi vì, theo quan điểm của wang Gungwu: “Nguồn lợi chính (của Trung Hoa)… là thương mại”.[26] Ví dụ như, dưới thời Sĩ Nhiếp khoảng năm 187 - 226, một số lượng lớn người Hu được dùng để hộ tống Sĩ Nhiếp khi ông ta đi du hành.[27] Giao Châu là nơi mà những thương nhân và quan lại người Hoa có thể tiếp xúc với thương nhân ngoại quốc. Vị trí trung gian dường như vẫn được giữ nguyên sau khi người Việt giành được độc lập vào thế kỷ X. Khi một sứ đoàn Mông cổ đến Đại Việt vào năm 1266, họ thấy một số lớn người Hồi giáo (Huihu) đang sinh sống ở đây. Điều này phản ánh trong một bức thư của hoàng đế Mông cổ Kublai (Hốt Tất Liệt - ND) gửi đến Đại Việt vào năm 1267, trong đó ông ta chỉ trích triều đình Đại Việt không cho người Hồi giáo đến nói chuyện với sứ đoàn của ông ta trong suốt thời gian của chuyến đi sứ. Năm 1268, Kublai có những cố gắng khác để tiếp xúc với người Hồi giáo ở Đại Việt. ông ta yêu cầu vua Trần Thánh Tông gửi những thương nhân Hồi giáo đến Trung Quốc để ông ta có thể trao đổi với họ về tình hình Trung Đông. Vua Thánh Tông thoái thác bằng việc trả lời rằng chỉ có hai thương nhân Hồi giáo ở Đại Việt, nhưng cả hai đã chết, và vì thế yêu cầu của Kublai không thể đáp ứng được. Hoàng đế Mông Cổ đã nổi giận và cho đó là một lời nói dối[28].
Như sử biên niên của Việt Nam xác nhận, Kublai đã đúng khi xác định rằng có những mối tiếp xúc giữa Đại Việt, Trung Quốc và Trung Đông. Toàn thư chép năm 1274, không lâu sau sự kiện trên, một hạm đội khoảng 30 thuyền vượt biển đến Đại Việt xuất phát từ Trung Quốc. Trên thuyền có những người nhập cư, họ mang theo châu báu và gia đình của mình. Họ tự gọi mình là “người Hồi” (Hui Ji-回鸡), cái tên mà hầu như chắc chắn là họ lầm lẫn với “Huihu -回鹘” .[29] Rất có thể đã có một số lượng đáng kể những người Hồi ở Đại Việt nên họ mới có thể tiến hành một cuộc di dân lớn như vậy. Cũng thông qua nguồn tư liệu này có thể thấy rằng văn hóa Trung Đông hiện diện ở quốc gia Đại Việt thời Trần là khá rõ. Sự thật thì năm 1268, chính là năm mà hoàng đế Mông Cổ yêu cầu các thương nhân ngườiHu (Hồi giáo) từ Đại Việt phải tới yết kiến. Trần Thánh Tông và anh trai tiến hành một buổi biểu diễn múa theo phong cách Hồi giáo ở hoàng cung để mua vui cho thượng hoàng Trần Thái Tông. Toàn thư đặc biệt nêu rõ, những vị quan tiền nhiệm mặc áo choàng trắng bằng vải bông vào mỗi dịp lễ hội. Cần phải lưu ý rằng mặc áo choàng trắng ở một lễ hội không phải là phong tục của Trung Quốc cũng chẳng phải là phong tục của Việt Nam thời kỳ này, mà nó được sử dụng phổ biến ở Trung và Nam Á “mặc quần áo trắng ở lễ hội và quần áo đen cho đám tang”.[30]
Con của hoàng đế Thánh Tông, nhà vua Nhân Tông nhắc đi nhắc lại chuyện ông ta tới thăm Champa với tư cách là một người sùng đạo Phật. Tại Champa chắc hẳn nhà vua đã gặp nhiều người đến từ Trung Đông. Sự kiện này có thể đánh dấu mở đầu cho sự ảnh hưởng của văn hóa Hồi giáo. Chỉ trong bối cảnh này, chúng ta mới có thể hiểu được những ghi chép dường như là rời rạc và ngẫu nhiên trongToàn thư, chẳng hạn như tham khảo ghi chép năm 1304 với việc “những thầy tu yoga đến từ Champa, và họ chỉ uống sữa”. Năm 1311, có thầy tu người Hu khác tới từ Champa. Ông ta khẳng định mình đã 300 tuổi, có khả năng đi trên nước và mang những sức mạnh siêu nhiên khác như ông ta có thể xoắn người để lộ ruột ra ngoài. Đây là lần thứ hai ông ta đến thăm Đại Việt. Lần này, ông ta mang theo cháu gái của mình và gả cho hoàng đế Anh Tông. Đám cưới dường như đã được sắp đặt bởi thượng hoàng Nhân Tông, vì nhà vua đã gặp thầy tu này từ lần viếng thăm đầu tiên. Việc triều đình Đại Việt tiếp xúc thường xuyên với Champa và thậm chí xa hơn nữa cũng được xác nhận bởi kỹ năng ngôn ngữ của quý tộc Trần đạt được nhờ vị trí trung gian của Đại Việt trong lộ trình hải thương. Điển hình là Trần Quang Khải, người có thể sử dụng thành thạo rất nhiều ngôn ngữ khác nhau cũng giống như em trai là Trần Nhật Duật. Theo Toàn thư, Trần Nhật Duật, có thể nói chuyện với sứ đoàn từ Temasek (Singapore ngày nay) theo ngôn ngữ của họ; tiếng nói này có thể là Malay nhưng cũng có thể là Ba Tư hoặc Arập[31].
Người Việt chắc chắn khai thác triệt để vị trí trung gian của mình giữa các quốc gia hải đảo và Trung Quốc. Một trong những sản phẩm của Đại Việt vào thế kỷ XIII là vòng xuyến tẩm hương thơm. Để làm những vòng xuyến này, người Việt sẽ trộn bột thơm với bùn, nặn đất sét thành nhiều hạt, sau đó xâu chúng lại với nhau bằng sợi dây tơ nhiều màu sắc. Cách làm này có thể học được từ các thương nhân Tây và Nam Á. Sau đó, những chuỗi này được mang bán ở Trung Quốc và được ghi chép lại là rất phổ biển với phụ nữ ở đây.[32] Vòng xuyến có thể cũng được xuất khẩu từ Trung Quốc đến các vùng khác nhau của Đông Nam Á; nhiều đồ gốm của người Việt trong những con tàu đắm phát hiện ở miền Nam Philippines cũng chứa nhiều hạt gốm như sẽ được trình bày ở phần dưới đây.
Hải Nam (Hainan) và những mối liên hệ với Hồi giáo
Mối liên hệ của Hồi giáo với khu vực này sẽ rõ ràng hơn khi chúng ta xét đến vị thế của đảo Hải Nam. Giao Chỉ có mối liên hệ khăng khít với Hải Nam; phong tục của Hải Nam là thờ thần “Li Mu” (Mụ/mẹ - tổ mẫu của tộc người Li), được miêu tả như sau: Mụ ăn trái cây được lấy từ trên núi và sống trên cây. Sau đó, một người đàn ông Giao Chỉ vượt biển đến Hải Nam để thu thập gỗ lô hội, một loại gỗ thơm. Bà đã cưới ông ta và có nhiều con cháu. Chỉ đến khi đó họ mới khai hoang và trồng trọt. Điều thú vị là, khu vực mà Mụ sinh sống, núi Li Mu, là nơi có nhiều gỗ lô hội nhất.[33] Truyền thuyết bản địa này không chỉ gợi cho chúng ta thông tin về nguồn gốc của gỗ lô hội của Giao Chỉ, mà còn cho thấy mối quan hệ mật thiết và chặt chẽ giữa Giao Chỉ và Hải Nam. Những tài liệu khác dưới thời Tống cũng xác nhận rằng, nhiều người từ Đại Việt đến Hải Nam để chọn gỗ, mặc dù hoạt động buôn bán với người Hải Nam là nguồn cung cấp đáng tin cậy hơn đối với mặt hàng này. Người Li đã “sống nhờ buôn bán gỗ thơm”, theo như Chư phiến chí[34]. Một số người mua gỗ thơm từ Giao Chỉ, vì vậy có thể đã có nhiều người Việt đến Hải Nam để buôn bán.
Gỗ thơm là một trong những mặt hàng quan trọng của người Việt, được bày bán phổ biến ở Khâm Châu (Qinzhou) thuộc Quảng Tây. Tại những nơi này, gỗ thơm được trao đổi lấy lụa của thương nhân Trung Quốc, những người có thể đến từ những nơi xa xôi như Tứ Xuyên (Sichuan):
Toàn bộ những món hàng quen thuộc của Giao Chỉ phụ thuộc vào Khâm Châu, vì vậy thuyền bè liên tục ra vào giữa hai địa điểm này. Buôn bán tấp nập diễn ra ở phía Đông của con sông nằm bên cạnh cảng thị. Những người mang sản phẩm từ biển dùng để trao đổi với lúa gạo và vải bông với số lượng ít được gọi là “Đãn Giao Chỉ” (Người được biết như dân Quảng Đông). Những thương nhân giàu có đến từ vùng biên giới của huyện Vĩnh Yên của Đại Việt buôn bán tại Khâm Châu, thường được coi là “những tặng phẩm nhỏ”. “Những tặng phẩm lớn” ám chỉ những đoàn triều cống từ Đại Việt đến để buôn bán. Những hàng hóa họ buôn bán là vàng, bạc, tiền đồng, gỗ lô hội và những loại gỗ thơm khác, ngọc trai, ngà voi và sừng tê. Những tiểu thương từ nước chúng ta đến đây trao đổi đồng, giấy bút, thóc gạo và vải bông với cư dân Giao Chỉ không được chú trọng lắm. Tuy nhiên, có những thương nhân giàu có mang vải thêu kim tuyến từ Shu (Tứ Xuyên) đến Khâm Châu để buôn bán dầu thơm một năm một lần. Họ thường mang theo hàng ngàn quan tiền. Những thương nhân đó mặc cả giá hàng giờ trước khi quyết định mua bán. Khi mà đã thống nhất về giá thì không ai được phép đàm phán với những thương nhân khác. Khi bắt đầu trao đổi giá cả, khoảng cách giữa giá nói và giá trả là rất lớn như giữa trời và đất. Những thương nhân giàu có của chúng ta (người Hán) cử những người hầu đến mua những thứ hàng hóa phục vụ cuộc sống hàng ngày và thậm chí họ còn xây dựng những khu cư trú tạm thời ở đó với mục đích làm vô hiệu hóa hoạt động của thương nhân (Giao Chỉ). Những thương nhân giàu có thường bình tĩnh, và dùng tính kiên trì của họ như một vũ khí. Khi hai thương nhân thấy nhau, họ sẽ cùng nhau uống rượu, như lâu ngày họ mới gặp nhau. Tại bữa tiệc đó, các bên có thể thêm hoặc bớt một vài quan, do đó giá cả giữa bên mua và bên bán dần khớp với nhau hơn. Khi có sự nhất trí, các quan (ở các chợ) cân dầu thơm và phân bố vải thêu kim tuyến cho hai bên để kết thúc sự thỏa thuận. Tại các địa điểm buôn bán, chính quyền (nhà Tống) chỉ thu thuế đối với thương nhân từ nước chúng ta”[35].
 
Đoạn trích trên chỉ ra rằng, Giao Chỉ là đối tác thương mại quan trọng nhất tại khu vực duyên hải Trung Quốc của vịnh Bắc Bộ. Sự trao đổi hàng hóa ở khu vực này rất phát đạt và phức tạp. Hoạt động thương mại tại khu vực này có thể được coi là mang tính chất khu vực hoặc cũng có thể là địa phương vì khoảng cách giao thương bằng thuyền là rất nhỏ. Buôn bán chắc chắn là một phần thiết yếu của đại bộ phận cư dân trong vùng.
Tuy nhiên, yếu tố mang tính sống còn để Hải Nam liên kết với thế giới bên ngoài là Champa. Bắt đầu vào thời Tống, các đoàn thương thuyền của người Chăm thường dừng lại đầu tiên ở Hải Nam trước khi đến Trung Hoa lục địa. Dường như chắc chắn rằng, phần lớn thương nhân hoạt động ở Hải Nam đều đến từ hoặc đi qua Champa, nơi mà thương nhân Hồi giáo từ lâu đã thiết lập các thương điếm như là một mắt xích trong hệ thống thương mại của mình. ở Guangzhou (Quảng Châu) và Fujian (Phúc Kiến), thương nhân Chăm hoặc thương nhân Hồi thường sống cố định ở khu dành riêng cho người nước ngoài, trong khi ở Hải Nam họ sống chủ yếu ở Yaizhou[36]. Những nhóm ngoại quốc khác, cũng có thể từ Champa, sống ở Daixian phần Đông Bắc của Hải Nam và ở Baisha.[37] Rất nhiều trong số họ có tên là “Pu” (Abu). Vì vậy, gia phả họ Pu cũng cung cấp manh mối về mối quan hệ giữa Hải Nam, Đàng Trong và lục địa Trung Quốc. Những gia phả này được tìm thấy ở Hải Nam (Yaizhou), ở Phúc Kiến (Dehua-Đức Hoá), Quảng Châu và vùng Khâm Châu ở Quảng Tây. Nói một cách khác, gia tộc họ Pu sinh sống ở những nơi mà họ có thể buôn bán được và khu vực vịnh Bắc Bộ là một trong những nơi họ sống tập trung. Măc dù những năm gần đây có một số ý kiến nghi ngờ về nguồn gốc Hồi của những gia đình Pu, như Pierre - Yves Manguin đã chỉ ra, bằng chứng Trung Quốc và Arập đã chứng minh một cách minh bạch là, có những mối liên hệ giữa Campa, thương nhân Hồi giáo ở Nam Trung Hoa với nhà Pu vào đầu thế kỷ thứ VIII,”[38]. Bằng cách đó, thương nhân Hồi giáo ở Hải Nam và quan hệ của họ với vùng Quảng Châu (Quanzhou) thuộc Phúc Kiến (Fujian) góp phần phản ánh sự phát triển thương mại của tỉnh này, như tranh luận của Chang Pintsun. Có cơ sở để thừa nhận, như Roderik Ptak đã chỉ ra, rằng các thương nhân từ Champa, hoạt động từ Hải Nam, hay thường xuyên lui tới đó, đã có những ảnh hưởng ở những cảng thị lục địa của Trung Quốc, và những nhóm này thường quan hệ chặt chẽ với nhau để cạnh tranh hoặc là liên kết với những nhóm thương nhân Hồi giáo khác và người Phúc Kiến[39].
Trong bối cảnh này, điều không thể tưởng tượng được là thương nhân Hồi giáo đã để lại dấu tích vòng quanh vịnh Bắc Bộ, ở Khâm Châu, Hải Nam và Champa, chỉ riêng bỏ qua Đại Việt trong suốt hàng ngàn năm thương mại và giao lưu-những cái đó dường như lại là những tài liệu hiện nay bảo cho chúng ta. Như Kenneth R. Hall đã quan sát, tất cả nguồn tư liệu của người Việt về vùng ngoại vi biên giới phía Bắc bị bóp méo bởi thành kiến của các sử gia nho giáo, đặc biệt là thái độ hoài nghi đối với thương mại của họ. Trong bối cảnh ấy, mối giao thương với các thương nhân Hồi giáo bị loại bỏ bởi định kiến của các sử gia phong kiến; bởi vì những tiếp xúc này chỉ mang lại sự nhầm lẫn và không khớp với quá trình xây dựng lịch sử quốc gia vốn vừa mang ý thức hệ, vừa mang tính chủng tộc.[40]Như một hệ quả, một phần quan trọng của lịch sử Việt Nam bị thiếu mất, như là bằng chứng trong Toàn thư: trong ít nhất hai trường hợp, tên nước ngoài hoặc tên người nước ngoài bị viết sai: một là Huihu, như đã trình bày ở trên và một trường hợp khác là Temasek[41]. Bởi vậy, hai trong số đối tác thương mại quan trọng của Đại Việt thời kỳ này trở thành những cái tên mới và xa lạ, làm cho mọi người lầm tưởng là không quan trọng và thiểu số. Chính điều này củng cố hơn nữa quan điểm rằng Đại Việt như là một quốc gia trì trệ về thương mại, một nơi có rất ít quan hệ với thế giới bên ngoài. Được viết ít nhất 150 năm sau những sự kiện này, hơn nữa lại bị chi phối bởi ý thức hệ Nho giáo, tác giả Toàn thư ít quan tâm đến những tên gọi của những người mà tổ tiên của người Việt đã thường xuyên quan hệ. Phần lớn những những bằng chứng liên quan đến yếu tố văn hóa và truyền thống đã đóng góp cho sự hình thành quốc gia Đại Việt đã bị phân tán và chôn vùi trong cát bụi.
Một lí do khác mà các nhà sử học Việt Nam có khuynh hướng miêu tả lịch sử Đại Việt thời kỳ đầu sao cho thật giống với Trung Quốc, có thể là về vấn đề an ninh. Sự lo lắng này được miêu tả trong bài thơ viết bởi vị vua tiếm quyền Hồ Quý Ly, người mà sau này là nguyên cớ cho cuộc xâm lược của nhà Minh năm 1407. Khi trả lời một câu hỏi của sứ giả Trung Quốc, ông ta nói: “Nếu ngươi hỏi ta về phong tục của An Nam, ta sẽ nói với ngươi là phong tục của chúng ta thuần túy giống Trung Quốc. Y phục chúng ta theo phong cách nhà Đường, và nghi lễ chúng ta dùng theo kiểu nhà Hán.[42] Ông ta viết điều này vì ông ta biết rằng: Trung Quốc một lần nữa trở lại sự thống trị của người Hán sau khi triều đình Mông Cổ bị lật đổ. Hồi giáo và những mối liên hệ không chính thống khác bị che đậy khi mà quốc gia đứng trước nguy cơ bị xâm lược bởi thế lực lớn hơn. ở Đại Việt cũng như ở Trung Quốc, những dấu vết của người theo Hồi giáo và người Mông Cổ hầu như bị loại bỏ vào thời Minh.
Quan hệ khăng khít giữa Hải Nam và Champa được ghi chép lại bởi một sử gia Trung Quốc vào năm 1600, cũng được Lê Quý Đôn - nhà sử học nổi tiếng của Việt Nam thế kỷ XVIII nhắc lại. Đoạn trích sau đây thể hiện sự quan tâm của Lê Quý Đôn đối với vấn đề biển:
Qu Daiun diễn tả trong Guangdong Xinyu (có thể là Quảng Đông chí lược?) rằng từ Hải Nam theo hướng Nam đi khoảng 600 lý sẽ đến Champa. Mỗi khi có gió Nam, mọi người có thể nghe thấy tiếng gà gáy từ phía Champa vào mỗi buổi sáng sớm. Điều này là minh chứng cho thấy sự gần gũi về mặt địa lý giữa hai khu vực. Nếu Hải Nam là tấm bình phong che chắn cho Quảng Đông thì Champa là tấm lá chắn che cho Hải Nam[43].
 
Theo Lê Quý Đôn thì cả vùng này được kết nối với nhau bởi biển và chịu ảnh hưởng bởi các luồng thương mại; biên giới về mặt lãnh thổ chỉ có ý nghĩa tượng trưng. Khi hình dung Trung Hoa như một thực thể văn hóa đồng nhất phủ lên toàn bộ biên giới hiện đại ngày nay, từ đó ảnh hưởng ra các quốc gia lân cận và tới Việt Nam từ phía Bắc thì chúng ta cũng phải lưu ý một điều rằng cho đến thời Minh (và đến tận nửa sau thế kỷ XVIII đối với Vân Nam), phần lớn Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam và Hải Nam là những vùng kém phát triển hơn khu vực Bắc Bộ cả về kinh tế và văn hóa. Chúng ta có thể lấy việc sản xuất gốm sứ như một thước đo. Cho tới thế kỷ XIII, ở các tỉnh như Hải Dương và Thanh Hóa ngày nay, xuất hiện nhiều trung tâm gốm sứ nổi tiếng, trong khi đó chỉ có duy nhất một lò được tìm thấy ở Quảng Tây và không hề có một lò nào ở Vân Nam.[44] Một nghiên cứu về số lượng những người có trình độ học vấn ở vùng Giao Chỉ trong đối sánh với Quảng Tây, Vân Nam và Hải Nam thời Đường đã chỉ ra rằng Giao Chỉ đã vượt lên tất cả những khu vực láng giềng về số lượng những người được đào tạo theo kiểu Trung Hoa và trên lĩnh vực văn hóa vật chất. Chúng ta cũng biết rằng Hải Nam là nguồn cung cấp ngựa chính cho Champa vào thời “đỉnh cao của một đế chế thương mại với một nền tảng nông nghiệp”.[45] Trong khi Đông Nam Á dường như đóng chức năng như nguồn cung cấp sản phẩm chính yếu cho Trung Quốc trong “kỷ nguyên thương mại”, thì một thời kỳ dài trước đó, Hải Nam đóng vai trò tương tự cho Đại Việt và Champa. Hơn là việc nhìn nhận văn hóa Hán ảnh hưởng từ phía Bắc tới Việt Nam, chúng ta nên thấy rằng, văn hóa Việt chịu Hán hóa có thể đã đóng vai trò nền tảng trong việc truyền bá văn hóa Hán tới Vân Nam và Quảng Tây.
   4. Vân Đồn và Hải Dương
Từ những tranh luận trên có thể thấy rằng Vân Đồn cảng thị chính của Đại Việt thời Trần và đầu thời Lê sơ không phải do chính quyền lựa chọn ngẫu nhiên, và vào cuối thời Đường, nó cũng không thể phát triển thịnh đạt nếu như Cao Biền không di dời những chướng ngại vật dọc theo bờ vịnh Bắc Bộ. (Cả John Whitmore và Momoki đều chỉ ra rằng, các cảng thị của Đại Việt vào giai đoạn sớm là thuộc vùng Nghệ Tĩnh)[46]. Sự thật thì dường như Vân Đồn, một địa điểm nằm vừa cách xa và vừa tách biệt lại được lựa chọn như một cảng thị chính của quốc gia. Điều đó hình như góp phần minh chứng cho quan điểm rằng, các triều đại Việt Nam muốn cho hoạt động ngoại thương được tổ chức ở những vị trí càng xa kinh đô càng tốt và giả định rằng những hoạt động này rât quan trọng đối với nền kinh tế. Nhưng nếu chúng ta liên tưởng đến thế kỷ XV, con đường thủy chính nối kinh đô của Đại Việt với bờ biển Trung Hoa chính là sông Bạch Đằng (sau này là một nhánh chính của sông Hồng, ngày nay là nhánh chính kết nối Nam Định và Thái Bình), và như ngày nay chúng ta thấy Vân Đồn là một tuyến giao thông chính. Tuyến đường thủy này đã phát triển trong “cách mạng thương mại” lần thứ nhất của Trung Quốc dưới thời Tống, và nằm ở trung tâm của vùng thương mại vịnh Bắc Bộ giữa Hải Nam và Khâm Châu. Cả hai nơi này là điểm dừng chân thường xuyên của các thương nhân Phúc Kiến, Chăm và thương nhân Hồi giáo[47]. Chính sách ưu ái của nhà Nguyên với các tín đồ Hồi giáo và thương nhân ở Phúc Kiến chắc chắn là động lực thúc đẩy sự vươn dậy của vùng thương mại do người Hồi giáo giữ vị trí trung tâm này.
Sự tồn tại của một vùng thương mại kể trên càng trở nên rõ ràng khi chúng ta kết nối chúng với các trung tâm sản xuất gốm sứ của Đại Việt vào thời gian này. Sự phát triển đáng kinh ngạc về dân số vào những năm 1200-1340 (theo Yumio Sakurai thì dân số tăng gấp đôi trong thời gian này) chắc hẳn đã tạo ra sự phân hoá lao động và khuyến khích phát triển các mặt hàng thủ công.[48] Gốm sứ được sản xuất ở nhiều nơi, chẳng hạn như Thanh Hoá, Thiên Trường (xem bên dưới). Từ những năm 1350 trở đi, một số lò gốm tư nhân được xây dựng ở Hải Dương đã sản xuất những mạt hàng gốm sứ tinh xảo, đánh dấu một bước phát triển mới về sản xuất gốm sứ của Đại Việt. Hầu hết trong số tám lò gốm này đều được tìm thấy ở Chu Đậu, địa điểm nằm không cách xa Vân Đồn là mấy. Thị trường tiêu thụ các sản phẩm gốm sứ này chủ yếu là ở các khu vực của người Chăm và Hồi giáo và cần phải nhấn mạnh rằng sự thịnh đạt của gốm sứ Việt trùng hợp với thời hoàng kim của Champa dưới thời vua Chế Bồng Nga. Có bằng chúng cho rằng, gốm xanh trắng được sản xuất là do đặt hàng của các thương nhân tới từ thị trường Tây Á, thậm chí những sản phẩm tinh xảo còn được xuất khẩu đến Ba Tư, Ai Cập và Thổ Nhĩ Kỳ. Đồ gốm Việt cũng được tìm thấy ở các khu vực gần với người Hồi, chẳng hạn ở Sulawesi và trung tâm và Nam Philippine. Gốm Chăm từ Gò Sành cũng được tìm thấy ở cùng các địa điểm này.[49]
Với việc thiết kế đồ gốm sứ để dành riêng cho xuất khẩu đã cho thấy mối tương tác giữa quốc gia với thị trường khu vực. Chúng ta biết rằng những đồ gốm với nhiều hình dạng khác nhau được sản xuất dành riêng cho Đông Java, theo mẫu được đặt hàng bởi triều đình Majapahit. Dựa theo những hình dạng của đồ gốm đó chúng ta có thể đoán định rằng chúng được sản xuất ở vùng Hải Dương.[50] Một điều thú vị rằng nhiều đồ gốm sứ Việt Nam được khai quật từ con tàu đắm ở Nam Philippine vào năm 1995 bao gồm cả những chuỗi hạt gốm và những vòng bằng đồng. Điều này cho thấy sự đa dạng trong hàng hoá trao đổi thông qua các hệ thống thương mại nối tiếp ở Đông Nam Á. Những mối quan hệ giữa Chăm-Philipine trong thời kỳ này được nghiên cứu kỹ bởi Geoff Wade cung cấp thêm bằng chứng cho hệ thống buôn bán mang tính phức tạp, rối rắm trong vùng[51].
Chúng ta cũng có thể áp dụng cách nhìn hướng biển đối với ngành nghề thủ công ở Hải Dương. Rất nhiều thương nhân ở Thăng Long tới từ 36 phố phường có nguồn gốc từ Hải Dương. Họ là thợ xây dựng, thợ mộc, thợ nhuộm, thợ làm da giầy và những thợ thủ công lành nghề chuyên về đục, khắc gỗ hoặc là in ấn, hay là thợ kim khí ở phố Hàng Đồng, Hàng Bạc. Một gia đình có nghề gia truyền làm kim khí gần đây cũng tìm thấy nguồn gốc của mình là ở Hải Dương.[52] Tất cả những hoạt động buôn bán khác biệt này gợi ý rằng Hải Dương đã có lịch sử lâu dài về buôn bán hàng thủ công, mỹ nghệ, có lẽ là còn hơn cả Hà Nội. Quả thực, vào đầu thế kỷ XIII, khu vực này đã được biết đến với nghể thủ công nổi tiếng đó là làm nón Ma Lôi, có nhiều điểm khác biệt với nghề làm nón của Huế xuất hiện vào thế kỷ XVIII.[53]
Các hoạt động trao đổi trên không chỉ đơn thuần thu hút thợ thủ công; mỗi ngành nghề có lẽ phải cần đến hàng nghìn nhân công. Chẳng hạn như nghề làm gốm, cần rất nhiều công đoạn. Một sản phẩm có thể phải trải qua bàn tay của ít nhất 12 người. Nghề làm gạch có vẻ ít phức tạp hơn nhưng lại bao gồm không chỉ thợ thủ công mà cả lao động thông thường để cắt gỗ trên rừng làm than củi và đào, làm nhuyễn đất sét.[54] ở riêng Vân Đồn, có bảy ngôi đền đổ nát thời Trần có thể gợi ý về một khối lượng không nhỏ vật liệu xây dựng đã được vận chuyển tới đây. Số nhân công làm việc trực tiếp trong các ngành nghề thủ công ở Hải Dương chẳng hạn như làm đường, chuyên chở đường thuỷ chắc hẳn cũng rất lớn.[55]
Đây là nền tảng cho “sự phát triển của thị trường phổ thông”[56] như Momoki Shiro đã chỉ ra. Ngành sản xuất gốm sứ của Hải Dương vì thế không phải được hình thành một cách ngẫu nhiên bởi nông dân ở các làng xã và không phải chúng tách biệt với việc trao đổi buôn bán. Giống như nhiều trung tâm thương mại ở Trung Hoa, nó là ngành thủ công có tính chất đặc biệt, có mối liên hệ mật thiết với các ngành khác chẳng hạn như các ngành đã kể ở trên, và nó cũng có liên hệ mật thiết với các nghề đóng tàu thuyền, làm muối, hay may mặc. Kết quả là, ngành sản xuất phục vụ xuất khẩu của Đại Việt không thể chỉ được đánh giá đơn giản dựa trên phần trăm đóng góp của nó với tổng thể hoạt động của nền kinh tế quốc gia, như Kishimoto Mio đã chỉ trong bối cảnh Trung Hoa.[57]
Trong khi chúng ta tiếp tục phải nghiên cứu nhiều hơn nữa các tổ chức sản xuất thủ công, thì các đền chùa Phật giáo có thể đóng vai trò chủ đạo trong việc kết nối tầng lớp quý tộc, sản lượng, và thị trường. Có một điều rõ ràng rằng, đền chùa là nơi tiêu thụ nhiều nhất gốm sứ và các vật liệu xây dựng. Chỉ riêng về vải vóc đã cho thấy nhu cầu của họ gấp nhiều lần so với triều đình. Cũng có thể chính nhà chùa đứng ra làm chủ hoặc hậu thuẫn cho các ngành thủ công. Mối liên hệ của họ với ngoại thương thể hiện rất rõ. Qua nhiều thế kỷ giao thương, các di vật tôn giáo là hoạt động quan trong trong thương mại Trung Hoa-Nam châu Á cùng với các loại hương liệu phục vụ cho lễ nghi tôn giáo[58]. Nhiều học giả ở các nước Đông Nam Á lục cũng nhấn mạnh rằng, sự phát triển về kinh tế được tập trung cho việc xây dựng các đình chùa và ngược lại đình chùa phát huy vai trò phân phối, điều chỉnh lại kinh tế địa phương. Với cách nhìn này, chúng ta có thể cấu trúc lại một mô hình với nhiều hoạt động kinh tế khác nhau trong cùng một bối cảnh và thấy được mối liên hệ của chúng với xã hội Đại Việt vào thế kỷ XIV. Đồng thời, nó cũng chỉ ra phân tích định lượng về những tác động của ngoại thương trong cấu trúc của nền kinh tế[59].
Một điề thú vị khi chúng ta thấy rằng núi Yên Tử, trung tâm Phật giáo của Đại Việt vào cuối thế kỷ XIII, lại nằm ở vùng Uông Bí, thuộc Quảng Ninh ngày nay. Đây là nơi mà vua Trần Nhân Tông lập nên một thiền phái Phật giáo của riêng Việt Nam là Trúc Lâm, nằm ngay trung tâm của vùng thương mại này. Một chùa khác, Quỳnh Lâm, cũng được xây dựng ở khu vực này bởi một nhà sư nổi tiếng, Pháp Loa, người đã đúc 1.300 pho tượng Phật trong suốt cuộc đời của mình[60]. Việc làm của ông ta chắc chắn đòi hỏi rất nhiều tiền và công sức, nhưng điều đáng chú ý là số lượng đồng dùng để đúc, mà như chúng ta đã biết Đại Việt thời gian này không sản xuất đồng. Có người cho rằng Champa, thông qua mối quan hệ với các thương nhân từ Trung Á, có thể đã cung cấp loại đồng này. Bằng chứng về sự cung cấp đồng của Champa có thể tìm thấy trong danh sách các đồ cống tặng của Lâm Ấp tới Trung Hoa gồm 10.000 catties vàng, 100.000 catties bạc, và 300.000 catties đồng[61]. Champa có thể đã đáp ứng nhu cầu về các đồ cúng tế cho Đại Việt giai đoạn này. Dễ nhận ra rằng Mahayana Buddhism (Phật giáo Đại Thừa) đều giữ trò rất quan trọng ở cả Đại Việt và Champa và điều đó giải thích tại sao vua Trần Nhân Tông đến thăm “người hàng xóm phía Nam”[62].
Khu vực này đồng thời cũng là trung tâm chính trị thực thụ của triều Trần trong vòng hơn 150 năm. Như nhà Trần đã tự thừa nhận rằng, dòng họ Trần khởi dựng từ vùng biển. Vào đầu năm 1239, triều đình Trần xây thêm một loạt các cung điện ở quê hương Thiên Trường, gần với Nam Định ngày nay, là nơi gần biển hơn rất nhiều so với Hà Nội. Giống như Ayutthaya sau này, trung tâm chính trị này được bao bọc bởi các con nước và bờ biển thì tràn ngập hoa thơm. Thuyền bè đi lại vui vẻ như chốn bống lai. Vua thường xuyên ở Thiên Trường hơn là ở Hà Nội, làm cho khu vực này mang dáng vẻ của một kinh đô. Như Whitmore đã chỉ ra, mặc dù kinh đô không gần bờ biển như Pegu và Ayutthaya, nhưng vùng duyên hải thực sự đóng vai trò như là một kinh đô[63].
Những trung tâm về chính trị, tôn giáo, và thương mại trên thường ở gần nhau và thường gần với các trung tâm sản xuất gốm sứ chính. Điều này giúp khẳng định mô hình của các chính thể thời cổ ở miền Trung Việt Nam, mô hình mà các học giả Việt Nam và Nhật Bản đã áp dụng từ nhiều thế kỷ trước. Chính thể dựa vào sông nước là tổ chức bộ ba quyền lực, trong đó trung tâm tôn giáo (thường ở vùng núi), trung tâm chính trị (ở đồng bằng phù sa) và cảng thị được nối kết với nhau bởi đường thuỷ.[64] Ví dụ về sự liên kết giữa trung tâm tôn giáo và cảng thị có thể kể đến Mỹ Sơn và Hội An ở miền Trung, giữa Cát Tiên (Lâm Đồng) và Cần Giờ (ngày nay là quận ngoại thành của Tp.HCM).
Những lập luận ở trên đã cho thấy một vùng với nhiều mối tương giao khu vực và nội vùng mà trước đây đã không được chỉ ra. Các học giả đã coi Đại Việt như là một thực thể nằm dưới ảnh hưởng của Trung Hoa còn Champa lại bị quy định bởi văn hóa Ấn Độ và Hải Nam như là một nơi xa xôi hẻo lánh chẳng ai biết tới. Mặc dù về mặt địa lý, chúng nằm cạnh nhau, ba địa điểm này có vị thế riêng với một vài hoặc thậm chí là không có điểm chung về văn hoá và kinh tế. Những bằng chứng về Khảo cổ học ở miền Trung Việt Nam trong vài thế kỷ qua đã tiết lộ những bằng chứng không thể chối cãi về sự ảnh hưởng của văn hoá Chăm, cùng với ấn Độ. Trong khi một vài ảnh hưởng của Trung Quốc tới trực tiếp từ Trung Hoa lục địa, phần lớn chúng được đưa tới thông qua vai trò trung gian của Giao Chỉ, Hải Nam nhờ vào hoạt động thương mại. Ngược lại, ảnh hưởng của Champa vào Đại Việt dường như sâu sắc hơn những gì chúng ta đã thừa nhận. Khai quật gần đây nhất ở cung điện của nhà Lý, Trần và Lê sơ ở Hà Nội đã cho thấy những ảnh hưởng mạnh mẽ của nghệ thuật và kiến trúc Chăm, qua đó gợi ý về sự ảnh hưởng qua lại mạnh mẽ giữa hai khu vực này.[65]
 
   5. Một bản đồ sắc tộc khác
Những thảo luận trên đã gợi mở câu hỏi về những người sống quanh vùng vịnh Bắc Bộ thời gian này. Đồng bằng sông Hồng đã được miêu tả là bảo tồn tính thuần nhất của người Việt trong suốt các thời kỳ lịch sử. Đây gần như là trường hợp duy nhất trong số các quốc gia Đông Nam Á. Điều này có thể xảy ra sau thế kỷ XV, nhưng Việt sử lược, bộ sử được viết vào thế kỷ XIII, ghi chép rằng cuối năm 1206, một phần lớn vùng duyên hải được đặt dưới sự kiểm soát của các thủ lĩnh địa phương. Một trong số đó là tộc “Liao” (Liêu) trong tiếng Hoa, có thể đó chính là tộc Lào hoặc một nhóm dân tộc khác. ở bất cứ trường hợp nào, họ không phải là người Việt[66]. Cùng sống với các tộc khác ở dọc theo vùng biên giới Việt - Trung, người Việt phải trải qua sự hòa trộn sắc tộc cả về chiều rộng và sâu. Những mối quan hệ cũng như những tiếp xúc đó khó có thể đơn giản hoá bằng thuật ngữ Việt hoặc Hán để tương phản với những cư dân miền núi, mà phải là kết quả từ quá quá trình giao thoa và tích hợp lâu dài. Sau quá trình này, tính bản sắc mới được định hình chặt chẽ và chắc chắn hơn ở thời hiện đại.
Theo Lĩnh ngoại đại đáp vào thế kỷ XIII, một nửa dân số Đại Việt đến từ vùng Nam Trung Hoa. Chắc chắn đây là con số phóng đại, nhưng nó có thể chứa đựng trong đó một phần sự thật. Giống như thế, một nguồn tài liệu quan trọng được biên soạn từ thời Tống có chép về dân tộc “Đãn” (phổ biến ở vùng Nam Trung Hoa) có nguồn gốc từ Giao Chỉ. Họ được ghi chép như là “Đãn Giao Chỉ” (Jiaozhi Dan). Điển hình cho cách sống sông nước, họ là những người đến từ Khâm Châu mang theo cá và những thực phẩm từ biển khác để trao đổi với gạo và quần áo[67]. Không có bằng chứng rõ ràng rằng họ có phải là những người được miêu tả trong cuốn Đại Nam nhất thống chí là đã di chuyển từ đảo tới đồng bằng sông Hồng và sống dựa vào đánh cá và làm muối, bên cạnh việc trồng lúa nước. Vì những cư dân đó không nói thạo tiếng Việt, ngôn ngữ của họ được cho là “tiếng vùng biển”[68]. Một số dời đến duyên hải Nam Trung Hoa, trở thành hoặc hòa nhập với dân tộc “Đãn”. Một trong những người làm nghề chài lưới là Mạc Đăng Dung, người thiết lập triều Mạc ở Đại Việt vào thế kỷ XVI, đã xây dựng và phát triển quyền lực sau này. Ông ta là người Hải Dương, nhưng tổ tiên của ông ta là tộc người “Đãn” đến từ Quảng Đông[69].
Sự pha trộn cư dân thường xuyên và lặp lại này làm tăng thêm sinh khí mới cho nhà Lý và nhà Trần. Như phần lớn các quốc gia Đông Nam Á, ở Giao Chỉ đến giữa thế kỷ XIV thiếu nhân lực một cách trầm trọng. Như đã trình bày ở trên, người Hoa được mua bán như những nô lệ. Những tộc người du mục ở Quảng Tây thường đột kích cư dân địa phương - họ có thể là người Nùng (Zhuang- Choang ở Trung Quốc) hoặc các nhóm tộc người khác trong vùng - và bán họ đến Giao Chỉ[70]. Hôn nhân cũng diễn ra giữa người Việt và người Hải Nam, như được chỉ ra trong truyền thuyết về bà chúa Li. Trước “Kỷ nguyên thương mại”, Giao Chỉ là địa điểm lý tưởng nhất để người Hoa di cư và trú ẩn. Khi Mông Cổ xâm lược Đại Việt, chúng đã bắt hơn 400 quan chức tị nạn của nhà Tống ở Đại Việt, vì thế không nghi ngờ rằng số lượng người Hoa có thể còn nhiều hơn. Người Champa và người Lào cũng có thể có mặt nhiều ở Đại Việt. Chính quyền nhà Trần thường nhắc lại sắc lệnh hạn chế nghiêm ngặt đối với cách nói của người Chăm và người Lào cùng với việc ăn mặc theo lối người Hoa.[71]
Theo như một câu chuyện từ thời Tống, khu vực thương mại Khâm Châu là nơi đã mở đường cho hoàng tộc Trần đến Việt Nam. Câu chuyện chỉ ra rằng vua Trần đầu tiên là người từ huyện Changle của Phúc Châu (Fuzhou). Nhà vua đã mạo hiểm đánh đổi sự giàu sang của gia đình để tới vùng Khâm Châu. Vì những quý tộc người Việt thường đến đó để buôn bán, ông gặp cháu gái của nhà vua, người có tình cảm với ông ta và sau này họ kết hôn với nhau. Trong khi câu chuyện này được xem như một câu chuyện hư cấu, nó bổ sung cho các cuốn sử biên niên về nguồn gốc nhà Trần. Do đó hoàng đế đầu tiên của nhà Trần là hậu duệ đời thứ tư của người nhập cư đến từ Phúc Kiến[72]. Nó cũng góp phần xác minh ghi chép từ Lĩnh ngoại đại đáp, đó là buôn bán tiến hành ở vùng Khâm Châu rất phồn thịnh và quý tộc Việt tham gia tích cực vào hoạt động này.
Nguồn gốc Hoa của nhà Trần được biết đến và được thừa nhận trong tập sử biên niên Toàn thư. Một câu hỏi là, sự nổi lên của nhà Trần là tự thân và ngẫu nhiên như cách hiểu thông thông thường cho tới nay, hay là họ dựa vào các mạng lưới liên minh của mình? Nếu là liên minh, vậy đây là kiểu liên minh gì? Các học giả đã đồng ý rằng chính tính linh hoạt trong thể chế chính trị và xã hội đã giúp nhà Trần phát triển. Chúng ta cũng cần thấy rằng, một quan cai trị được coi là thành đạt ở Đông Nam Á là người vượt lên từ một nhóm các thủ lĩnh địa phương hoặc quý tộc ruộng đất không ngừng cạnh tranh lẫn nhau. Mỗi người đề xây dựng cho mình một hệ thống liên minh. Trong bối cảnh này, câu hỏi đặt ra là liệu khu vực mậu dịch vịnh Bắc Bộ có cung cấp một vũ đài cho nhà Trần phát huy thế lực vượt lên các đối thủ khác. Những gì đã xảy ra có lẽ là như vậy.[73] Gần đây, các học giả Việt Nam đưa ra quan điểm rằng cơ sở kinh tế nhà Trần bao gồm chài lưới và nông nghiệp đã giúp họ giành được ngai vàng.[74] Quan điểm này thừa nhận những thành phần kinh tế khác hơn là nông nghiệp đã tham gia vào quá trình hình thành lịch sử kinh tế Việt Nam, cũng như nhấn mạnh vai trò quan trọng của biển đối với sự phát triển của nhà Trần. Đặt nhà Trần vào bối cảnh lịch sử chung, chúng ta thấy hiện ra một dòng họ vốn xuất thân là người Phúc Kiến sống bằng nghề đi biển và thông gia với vương triều Lý nhờ vào sự giàu có. Đây là mô hình lịch sử chung của nhiều quốc gia Đông Nam Á thời kỳ này. Đặt Trần Quốc Tuấn trong bối cảnh lịch sử này cũng nhắc cho chúng ta thấy nguồn gốc Hoa của người anh hùng lỗi lạc của dân tộc Việt Nam, được coi như người “Cha” dân gian của người Việt.[75] Tất cả điều này giúp chúng ta nhìn nhận lại tính đồng nhất về bản sắc và vị trí địa lý của dân tộc việt, những thứ đã bị phức tạp hoá và xói mòn bởi những câu truyện trắng đen, đúng sai trong cách chép sử mang đậm tính dân tộc chủ nghĩa.
 
 
6. Kết luận
Những thảo luận trên đây đặt ra nhiều câu hỏi hơn là giải đáp để trong một chừng mực nào đó có thể làm hài lòng các học giả. Cách nhìn hướng biển của chúng ta đã đặt ra những nghi ngờ về nền tảng nông nghiệp của mô hình kinh tế chính trị và tộc người của Việt Nam giai đoạn sớm, tương đồng với các thể chế khác ở Đông Nam Á. Những gì mà chúng ta vừa chỉ ra chỉ là một vài chấm nhỏ trên vùng duyên hải, hơn là một cấu trúc hoàn chỉnh. Chúng ta thấy những mối liên kết trải từ bờ biển này đến bở biển khác ở vùng vịnh Bắc Bộ, cũng giống như giữa vịnh Bắc Bộ và vùng Hải đảo và xa hơn nữa. Quả là chúng ta biết rất ít về tính trung gian trong, chẳng hạn tổ chức sản xuất gốm, mối quan hệ của nó với sự phồn thịnh và suy vong của các trung tâm, khu vực thương mại.
Cách nhìn hướng biển giúp chúng ta phá vỡ những ý niệm về biên giới về lãnh thổ Việt Nam. Việc thiết lập đường biên giới hiện đại và sự tập trung chú ý của giới học giả vào các thời kỳ lịch sử nhất định (chẳng hạn như thời Tống, Đường, Minh), hoặc vào các thể chế đơn lẻ như Việt Nam, Trung Quốc, Champa, vv… đã làm cho Giao Chỉ Dương trở thành một vùng biển đầy những khối băng thuần nhất và vững chắc. Rất khó có thể tưởng tượng được rằng trước khi những khối băng trở thành vững chắc và cô lập, chúng cùng một biển và liên hệ với nhau từ ngọn gốc. Cách nhìn từ biển cho thấy những câu chuyện mang nặng tính dân tộc đã che dấu như thế nào tính năng động của vùng mà trên đó các quốc gia được hình thành sau này.
 
 
 
Tác giả: Li Tana. Li Tana là một nhà Việt Nam học nổi tiếng, hiện đang công tác Trung tâm Nghiên cứu châu Á và Thái Bình Dương - Đại học Quốc gia Australia. Công trình quan trọng "Nguyễn Cochinchina, Southern Vietnam in Seventeenth and Eighteeth Centuries" của Li Tana đã được dịch ra tiếng Việt và xuất bản ở Việt Nam dưới tiêu đề "Xứ Đàng Trong, lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỉ 17-18" (Nxb Trẻ, 1999; tái bản 2013)
Người dịch: Nguyễn Tiến Dũng, Giảng viên Khoa Văn hóa học – ĐHVH HN
Người hiệu đính: TS. Phạm Văn Thủy, Giảng viên Khoa Khoa Lịch sử, Trường ĐHKHXH&NV-ĐHQGHN (Leiden University, Netherland, PhD, 2014).
 
Nguồn: Bản dịch tiếng Việt đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 7-2009, tr. 14-28 và số 8-2009, tr. 60-67.  Nguyên văn bài viết bằng tiếng Anh: Li Tana, A view from sea: Perspectives on the Northern and Central Vietnamese coast, Journal of Southeast Asian Studies, National University of Singapore, vol 37 (1), 2006, pp. 83 – 102.

 
Admin 4

[1] Với cách nhìn nhận lại về vị trí Đại Việt trong mạng lưới thương mại biển Đông giai đoạn sớm, xem Momoki Shiro, “Đại Việt and South China Sea trade from the 10th to the 15th century ”, Crossroads, 12, 1 (1998): 1 - 34; và Cristopher Goscha, “The borders of Vietnam’ s early wartime trade with Southern China: A contemporary perspective”, Asian Survey, 40, 6 (2000): 987 - 1018. Có một luận điểm về tầm quan trọng của biển trong bài nghiên cứu của Charles Wheeler được đưa ra trong bài viết này.
[2] Những nguy hiểm trên lộ trình hải thương được Cao Biền nhìn nhận: “Khi ngươi nhổ neo thuyền thì đừng nghĩ đến chuyện sống sót mà trở lại đây”; “Gao Pian (Cao Biền) kai hailu”, trong Sun Guangxi,Beimeng suoyan, tuyển chọn trong Congshu jicheng chubian (Shanghai: Shangwu, 1936), juan 2, tr. 9. Xem thêm Mã Viện: “Tianwei jing xinzao haipai pei”, trong Phan Văn Các và Claudine Salmon, Épigraphie en chinois du Việt Nam = Văn khắc Hán Nôm (Paris và Hà Nội: Ecole Francaise d’Extreme Orient và Viện nghiên cứu Hán Nôm, 1998), tr. 33 – 40.
[3] Ouyang Xiu và các tác giả, Xin Tangshu (Bắc Kinh: Zhonghua Shuju, 1975), juan 43, tr. 1151 – 1152. Maspero cho rằng con đường ngang Keo Nua vượt đến Lào, trong khi Đào Duy Anh tin rằng nó có khả năng bắt đầu từ vùng Quy Hợp hơn; Quy Hợp là một điểm tiếp xúc quan trọng giữa Việt Nam và Lào trong nhiều thế kỷ. Xem Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời (Hà Nội, Khoa học xã hội, 1964), tr. 198. Sự tiếp xúc của miền Trung Việt Nam và Trung Quốc là khá mạnh mẽ, theo cách nhìn nhận của John Whitmore và một số học giả khác cho rằng ảnh hưởng của văn hóa Hán mở rộng hơn ở vùng kinh đô (John Whitmore, The rise of the coast, tài liệu sẽ dẫn).
[4] Roderich Ptak, Jottings on Chinese sailing routes to Southeast Asia, especially on the Eastern Route in Ming times, trong Ptak, China, the Portuguese and the Nanyang (Aldershot, Hants: Ashgate, 2004), tr. 109. Một điều đáng chú ý là vị trí của miền Trung Việt Nam trong lộ trình phía Tây là rất quan trọng, nơi khởi đầu để đế chế Roma cố gắng giao thương với Trung Quốc vào thế kỷ thứ hai sau Công nguyên. Quà tặng được mang đi trên các chuyến hải trình của hoàng đế Marcus Aurelius bao gồm “ngà voi, sừng tê giác và mai rùa”, có thể là những mặt hàng ở miền Trung Việt Nam thời kỳ này; Wang Gungwu, The Nanhai trade: The early history of Chinese trade in the South China Sea (Singapore: Times Academic Press, 1998), tr. 25.
[5] Kenneth Hall, Mairitime trade and state development in Early Southeast Asia, (Honolulu: University of Hawaii Press, 1985), tr. 184; Hall cho rằng thương nhân Việt dùng con đường sông Mekong để đến Campuchia, từ Nghệ An vượt qua Hà Trai xuống hạ lưu sông Mekong (tr. 173). Về cống phẩm, xem Momoki, “Đại Việt”, tr. 15).
[6] Đại Việt sử ký toàn thư (viết tắt: Toàn thư), biên tập bởi Cheng Kingho (Triệu Kinh Hòa), (Tokyo: Keio University, 1984), Ngoại Kỷ, 1: 9b. Tầm quan trọng của việc kết nối sông - biển giữa miền Bắc và miền Trung được khẳng định bởi các nghiên cứu của các nhà sử học, nhân học Việt Nam. Phần lớn những trung tâm buôn bán lớn được xác định ở Nghệ An, và các chợ buôn bán lớn nhất được xác định ở huyện Nghi Lộc, gần Thành phố Vinh ngày nay. Thuyền mành từ Lào thường xuyên lui tới các địa điểm giao thương này, họ đến theo đường sông Cả ra các chợ vùng duyên hải trước khi vận chuyển đến đồng bằng sông Hồng. Thuyền mành sẽ mang trở lại nhiều vại sành lớn, những thứ được sản xuất ở đồng bằng; Nguyễn Đức Nghinh, “chợ và làng”, trong The traditional village in Vietnam, Phan Huy Lê (chủ biên) (Hà Nội: Thế giới, 1993), tr. 324 - 325.
[7] Wang, Nanhai trade, tr. 4 - 5, 12, 21.
[8] Một ghi chép chi tiết của nguồn tư liệu Trung Quốc cổ về chủ đề này được Li Tana sử dụng trong, “The rise and fall of the Jiaozhi Ocean”, Bài viết tham dự Hội thảo quốc tế Maritime Space in Traditional Chinese Sources, Munich, 25 - 26th Feb - 2005. Vai trò của biển Giao Chỉ được nhìn nhận trong Lingwai daida (Lĩnh ngoại đại đáp): “Con đường (đến Trung Quốc) từ Srivijaya theo hướng Bắc - Bắc, vượt qua phía trên hoặc dưới đảo Zhu và biển Giao Chỉ. Sau đó đi vào Quảng Châu bởi Tunmen và tại Quảng Châu sẽ lấy Jiazimen”; Zhou Qufei, Lingwai daida (Beijing, Zhonghua Shuju, 1998), tr. 126. Theo lập luận của John Whitmore về miền Trung trong Rise of the coast cho rằng Đại Việt thời Lý cũng như Angkor và Pagan cực kỳ hưng thịnh cho đến thế kỷ XIII, khi nhà triều Tống dịch chuyển hoạt động thương mại đến vùng duyên hải và đã tác động lớn đến vị trí của người Việt.
[9] Fan Chengda, Guihai yuheng zhi jiaobu, ed. Qi Zhiping (Nanning: Guangxi Minzu Chubanshe, 1984), tr. 53.
[10] Zhou, Lingwai daida, tr. 270; Zhao Rukua, Zhufanzhi (Hong Kong: Hong Kong University Press, 2000), tr. 3
[11] Toàn thư, Bản kỷ, 3: 13a; toàn bộ những ghi chép liên quan đến sự kiện này là từ phần Bản kỷ, cùng với một số ghi chép khác.
[12] Ví dụ như quan hệ thư từ giữa Trung Quốc và Đại Việt, xem Xu zizhi tonggjian changbian, trongWenyuan ge siku quanshu, History 160, juan 9 (Taipei: Shangwu Press, 1982 reprint); và Xu Song, Song huiyao jigao (Bắc Kinh: Zhonghua Shuju, 1957 reprint), những năm 1059, 1070, 1084, và 1086. Nô lệ người Hoa trong quân đội Đại Việt có thể xem trong Xu zizhi, juan 349, năm 1089.
[13] James K. Chin, “Ports, merchants, chieftains and eunuchs” trong Guangdong: Archaeology and early texts, ed. Shing Muller et al. (wiesbaden: Harrassowitz, 2004), tr. 228
[14] Xem thêm: Georges Coedes, The Indianized states of  Suotheast Asia (Honolulu: East – West Center press, 1968), tr. 44; và D. G. E. Hall, A history of Southeast Asia ( London: Macmillan, 1968), tr. 30. Một ý kiến phản đối là Georges Maspero, Le royaume de Champa (Pari và Brussels: G. Vanoest, 1928), tr. 55. Tài liệu về Fan Wen chủ yếu trong Shuijing zhu (Shanghai: Shangwu, 1936), juan 36.
[15] Zhou, Lingwai daida, Juan 2, tr. 57.
[16] Wang Gungwu, Nanhai trade, tr. 19 - 20, cũng đề cập đến số lượng ngọc trai. Những viên ngọc trai lớn được mang đến từ vịnh Bắc Bộ cũng được ghi chép trong sử biên niên của Việt Nam, chép rằng năm 1066 thương nhân Java mang đến “một viên ngọc trai dạ quang” (“yeguang zhu” ở Trung Quốc) và triều Lý trả tiền gía một vạn quan tiền (Toàn thư, 3: 4a). Điều này chắc hẳn đã kích thích thương nhân tích cực buôn hơn trong khu vực này.
[17] Song huiyao jigao, juan 8116, tr. 1; Dongxi yangkao (Bắc Kinh: Zhonghua Shuju, 1981), tr. 15. Ngựa chắc phải có nhiều ở Giao Chỉ, vì thế mà được cư dân sử dụng là vật dụng chuyên chở phổ biến. Năm 1128 nhà Lý đưa ra chỉ dụ ngăn cấm cư dân cưỡi ngựa, như một hành động thương tiếc của Triều đình cho cái chết của hoàng đế Nhân Tông; Việt sử lược, 3: 1a, trong Congshu jicheng (Shanghai: Shangwu Yinshunguan, 1936), tr. 47.
[18] Ngựa là phương tiện trả thuế ở những huyện dọc biên giới Việt Nam; Gu Zuyu, Dushi fangyu jiyao(Bắc Kinh: Zhonghua Shuju, 1955), juan 111, tr. 4513, 4527.
[19] Bộ Kim Hoa ngày nay là huyện Quảng Uyên của Cao Bằng, trong khi châu Vị Long là huyện Chiêm Hóa của tỉnh Tuyên Quang; địa phương Đỗ Lãng có thể được biết đến trong Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam, tr. 92 và 189). Sự việc năm 1012 được tìm thấy trong Toàn thư, 2: 6a; cuộc tấn công năm 1008 có thể thấy trong Việt sử lược, 1: 22a. Một ghi chép khác là năm 1006 châu Vị Long tiến cống một con ngựa Pony trắng đến nhà vua Lê Ngọa Triều (Toàn thư, 2: 28b).
[20] Một số ví dụ về sự kết giao của triều Lý với những thủ lĩnh địa phương của châu Vị Long có thể they vào các năm: năm 1036 (Toàn thư, 2: 24b), năm 1082 (TT, 3: 11a), và năm 1180 (Việt sử lược, 3: 10a). Cũng có thể xem trong Các và Salmon, Épigraphie en chinois, tr. 93.
[21] Lingwai daida, juan 10 (Man sử), tr. 416.
[22] Whitmore, “Rise of coast”; xem Việt sử lược, 3: 17b phần Đại Hoàng (phía Tây của Nam Định và Nam của Ninh Bình ngày nay) và 3: 18b phần Đằng Châu và Khoái Châu (Hưng Yên). Về những vùng lãnh thổ địa phương xem Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam, tr. 91 - 93.
[23] Chính sách của Li Zhuo được ghi chép trong Toàn thư, ngoại kỷ, 5: 8b - 9a. Có thể xem thêm: Keith Taylor, The birth of Vietnam (Berkeley: University of Califorlia Press, 1983), tr. 240 - 1; Edward Schafer,The vermilion bird (Berkely: University of California Press, 1967), tr. 67; và John K. Whithmore, “Colliding people: Tai/Viet interaction in the 14th and 15th centuries”, bài viết trình bày tại The Association of Asian Studies, Diego, 2000. Trình bày tỉ mỉ về con đường và khoảng cách giữa An Nam và Vân Nam được ghi chép trong Manshu (sách về các dân tộc Nam man). Fan Chuo, tác giả cuốn sách, là một thành viên của chính quyền An Nam đô hộ phủ, người mất hết gia đình trong cuộc tấn công Nam Chiếu năm 863; Fan Chuo, Manshu (Beijing: Zhonghua Shuju, 1962, tr. 1-10.
[24] Song huiyao jigao, tr. 7735
[25] Toàn thư, 3: 4a
[26] Wang, Nanhai trade, tr. 30
[27] Toàn thư, ngoại kỷ, 3: 10a - b
[28] Bức thư năm 1267 trong Lê Tắc, An Nam chí lược (Huế: Viện đại học Huế, 1961), juan 1, tr. 33; năm 1268 trong Yuanshi (Nguyên sử) (Bắc Kinh: Zhonghua Shuju, 1976), juan 209, tr. 4635 – 6. Giới hạn “Huihu” có thể tham khảo trong phần lớn tư liệu Trung Quốc về vương quốc và cư dân Uighur (Hồi Hột) ở Xinjiang ngày nay nằm trên con đường tơ lụa cổ. Đồng thời, một nghiên cứu thấu đáo về Siku quanshu,một số văn bản chỉ ra rằng một số nguồn tư liệu từ thời Nguyên có có giá trị tham khảo quý giá đối với thương nhân Hồi giáo đến từ Trung Đông; cùng thời gian thuật ngữ “Huihu” cũng xuất hiện trở lại trong các nguồn tài liệu của Việt Nam. Huihu (người Hồi) có thể là Uighur (Hồi Hột), Khorezm hoặc Muslim Turks và những người khác từ Trung Đông; tôi xin gửi lời cảm ơn đến Igor de Rachewiltz, một chuyên gia về lịch sử triều Nguyên, với sự giúp đỡ của ông về vấn đề này.
[29] (Năm 1274) người Tống đến Đại Việt. Họ đến trên 30 thuyền mang theo nhiều châu báu cùng với gia đình và được định cư ở phố Tuần Phường, Thăng Long. Họ gọi mình là Hồi Kê. Điều này là bởi chúng ta gọi họ là Tống “Kê Quốc” như họ có vải thêu kim tuyến và thuốc để bán ở các chợ (TT, 5: 34a). Người biên tập tập sử biên niên năm 1993 khẳng định rằng “Huiju” nên là “Huihu”, và tôi đồng ý với ý kiến này, Đại Việt sử ký toàn thư, vol II (Hà Nội: Khoa học xã hội, 1993), tr. 39
[30] TT, 5: 32a. Nhà Lý vào thế kỷ XII, chép lại việc sự dụng triều phục như việc mặc áo vàng ở trên và một cái màu tía ở dưới, cùng việc đội những chiếc mũ gắn vàng. Người đàn ông mặc màu đen khi ngủ, với kẹp tóc bằng bạc hoặc bằng sắt, trong khi phụ nữ mặc váy màu xanh và áo màu đen.; Fan, Guihai yuheng zhi, tr. 52. Áo choàng bằng vải trắng được mặc trong trường hợp này có thể giống như một loại áo quần sang trọng khác, chỉ được trưng diện trong một số trường hợp nhất định.
[31] TT, 6: 19b (1304), 6: 27b (1311), 6: 1b (Trần Quang Khải), 7: 2a - b (Trần Nhật Duật)
[32] Fan, Guihai yuheng zhi, tr. 10
[33] Câu chuyện về Li Mu là từ Liu Yi, Ping Li ji (một ghi chép về việc xác lập Li), trích trong Zhufanzhi buzhu (sự chú giải mới về Zhufanzhi), biên tập bởi Han Zhenhua (Hong Kong: Hong Kong University Press, 2000), tr. 459; có thể thấy thêm Wang Shixing, Guangzhi yi (ghi chép về Guang) (Bắc Kinh: Zhonghua Shiju, 1981), tr. 104. Theo một nguồn tài liệu cuối thế kỷ XVII, “cây gỗ lô hội được trồng ở Champa không tốt như từ Chân Lạp, và làm từ Chân Lạp lại không tốt bằng từ vùng Li của Hải Nam. Trong vùng Li thì vùng phía Tây núi Li Mu có chất lượng tốt nhất trên thế giới”; Zhou Jiazhou, Xiangcheng(về dầu thơm), được tuyển chọn trong Qianlu (về nghiên cứu đúc tiền) (Shanghai: Shanghai Guji Chubanshe, 1991), tr. 356.
[34] Han, Zhufanzhi, juan 2, tr. 443. Gỗ thơm từ Hải Nam thường được trao đổi với trâu bò của triều Tống với một giá là 1 dan (60 kg) phần đầu (Fan, Guihai yuheng zhi, tr. 10). Những vị khách từ Đại Việt đến Hải Nam được chép trong Qu Dajun, Guangdong Xinyu (một bài tường thuật mới về Quảng Đông) (Guangzhou: Guangdong Renmin Chubanshe, 1991), juan 8, tr. 242
[35] Zhou, Lingwai daida, tr. 196 - 7.
[36] Về thương nhân Hồi giáo xem Pierre - Yves Mangui, “The introduction of Islam in to Champa”,Journal of the Malaysian Branch of the Royal Asiatic Society, 58, 1 (1985), 1. Địa vị của thương nhân Cham là khá mơ hồ trong các nguồn tư liệu Trung Quốc nhưng là khá rõ ràng từ các nhóm Persian và Arab. Có hai fanfang ở Yaizhou. Trong Yaizhou zhi (báo cáo về Yaizhou) chúng ta có thể thấy rằng “các địa phương ở đó có nguồn gốc từ Champa. Họ đến bằng thuyền từ thời Tống và thời Nguyên và định cư dọc ven biển; khu định cư của họ được gọi là fancun hay fanpu”; Yaizhou zhi, juan 8, trong Gugong Zhenben congkan (Taipei: Palace Museum, 2001), juan 194, tr. 136
[37] Roderich Ptak, “Hainan - position in maritime trade, c. 1000 to 1500” (Vị trí Hải Nam trong hoạt động thương mại biển Đông từ năm 1000 đến 1500), bài viết trình bày tại Hội thảo: China and Southeast Asia: The changing linhks through History, Centre of Asian Studies, University of Hong Kong, 19 - 21 July 2001.
[38] Manguin, “Introduction of Islam”, tr. 3; về gia phả Pu xem thêm Luo Xianglin, Pu Shougeng (A biography of Pu Shoung), (Taipei: Zhonghua Wenghua Chuban Shiye Weiyuanhui, 1965), tr. 2 - 3.
[39] Chang Pin - tsun, “The formation of a maritime convention in Minnan (souther Fujian), c. 900 - 1200, trong From the Mediterranan to the China Sea: Miscellaneous, biên tập bởi Claude Guillot, Denys Lombard và Roderich Ptak (Wiesbaden: Harrassowitz, 1999), tr. 148 - 50, 153. Được xác định giữa Champa và phía Bắc Đại Việt, Nghệ An cũng có mối quan hệ mật thiêt với Champa và Hải Nam. Christopher Goscha báo cáo rằng “đến nay, các nhóm ngư dân Hải Nam sống ở đảo Bạch Long Vĩ thuộc Vịnh Bắc Bộ nằm giữa Hải Phòng và Hải Nam nói tiếng Việt và tiếp tục buôn bán với miền Trung Việt Nam. Đặc biệt thuyền mành của người Hải Nam thường xuyên tiến hành hoạt động mua bán quế với miền Trung Việt Nam”, trong đó mạng lưới của Nghệ An cũng mở rộng đến Lào. Xem thêm Christopher Goscha, “The maritime nature of the wars for Vietnam (1945 - 1975), báo cáo trình bày tại  The Fourth Triennial Vietnam Symposium (Hội thảo lần thứ tư - diễn ra ba năm một lần về Việt Nam), Texas Tech University, 11 - 13 April 2002.
[40] Hall, Maritime trade, tr. 320 - 321. Về một bài phê bình xuất sắc của sử gia phong kiến xem Shawn McHale, “Texts and bodies”: Refashioning the disturbing past of Tran Vietnam (1225 – 1400), Journl of Economic and Social History of the Orient, 42, 4, (1999): 495 - 516.
[41] Được viết là Temasek (Singapore ngày nay).
[42]Thơ văn Lý -  Trần, vol III (Hà Nội: Khoa học xã hội, 1978), tr. 245.
[43] Lê Quý Đôn, Vân đài loại ngữ, (Sài Gòn: Phủ Quốc Vụ khanh đặc trách Văn hóa, 1972), 1: 32a - b; Lê Quý Đôn cũng trích dẫn của Qu, Guangdong xinyu, tr. 38
[44] Feng Xianming, Zhongguo gutaoci wencian jishi (một số chú giải về tài liệu lịch sử tuyển chọn - gốm Trung Hoa thời cổ), vol. I (Taipei: Yishujia, 2000), tr. 142 phần Quảng Tây.
[45] Ian Mabbett, “Buddhism in Champa”, trong Southeast Asia in the 9th to 14th centuries, chủ biên David Marr và Anthony C. Milner (Singapore: Istitute of Southeast Asian Studies, 1986), tr. 292.
[46] Whitmore, “Elephants can actually swim” trong Marr và Milner, Southeast Asia, tr. 130; Momoki, “Đại Việt”, tr. 11 - 12.
[47] Về “Cuộc cách mạng thương mại” (the commercial revolution) được thảo luận trong Mark Elvin, The pattern of the Chinese past (Stanford: Stanford University Press, 1973); về Bạch Đằng xem Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam, tr. 37
[48] Victor Lieberman, Strange parallels: Southeast Asia in global context, c. 800 - 1830, volum 1: integration on the mailand (Cambridge and New York: Cambridge University Press, 2003), tr. 368, trích từ tài liệu viết tay của Sakurai nhan đề Vietnam after the Age of Commerce (Việt Nam sau kỷ nguyên thương mại).
[49] Rosanna Brown, The ceramics of Southeast Asia (Singapore: Oxford Universityn Press, 1988), tr. 88 - 89; John Stevenson và John Guy, Vietnamese ceramics: A separate tradition (Chicago: Art Media Reosources, 1997), tr.54. Đồ gốm này trình bày trong tuyển tập quốc gia, có sự tham gia liên kết với gốm sứ Trung Quốc ở Vân Nam và ở đầu thời Minh. Về Gò Sành xem Champa ceramics production and trade - Excavation report of the Gò Sành kiln sites in Cental Vietnam, Tokyo University of Foreign Studies, 2002), pp 8 - 9. Tôi xin gửi lời cám ơn Momoki cho phép sử dụng nguồn tư liệu này.
[50] Brown, Ceramics of South - East Asia, tr. 23; Stevenson và Guy, Vietnamese ceramics, tr. 58.
[51] ACRO Update, biển tập bởi Ho Chuimei (Chicago, 1996), no. 1, tr. 3, trích trong ibid, tr. 56; Geoff Wade, “On the possible Cham orign of the Philippine scripts”, Journal of Southeast Asian Studies, 24, 1 (1993): 44 – 87.
[52] Nguyễn Thừa Hỷ, Thăng Long - Hà Nội thế kỷ XVII - XVIII - XIX, (Hà Nội: Hội sử học Việt Nam, 1993), tr. 230 - 248. Cũng có thể xem thêm những ghi chép về thương nhân Hải Dương ở phố Hàng Đào, Hà Nội, trong tuyển tập văn bia Hà Nội (Hà Nội: Khoa học xã hội, 1978), vol II, tr. 146 - 8. Về phố Hàng Đồng và Hàng Bạc xem Nguyễn Vĩnh Phúc và Trần Huy Bá, Đường phố Hà Nội, (Hà Nội: Nxb Hà Nội, 1979), tr. 153 - 9, 176. Về gia đình thợ kim hoàn được tham khảo trong một phóng sự trên Việt Nam TV channel 3, 30 tháng 4 năm 2004.
[53] Yuean lishi (Beijing: Renmin Chubanshe, 1977), tr. 212.
[54] He Xiling et al., Daogung Fuliang xianzhi (Gazetteer of Fuliang distric, Jiangxi), juan 8, tr. 37 - 43, trích từ Zhongguo Jindai Shougongye ziliao (Tài liệu quan trọng về lịch sử nghề thủ công ở Trung Quốc hiện đại), vol I (Shanghai: Sanlian Press, 1957), tr. 19 - 24. Thời Minh, Jingdezhen, trung tâm gốm sứ của Trung Quốc, được cho là có hàng trăm, hàng nghìn người làm việc liên tục ngày đêm. Đầu những năm 1990, các học giả Việt Nam đào ở Hải Dương 40. 000 m2 với chiều sâu 2m , tại đây họ tìm thấy hơn 100 lò gốm, với hơn 10.000 hiện vật có giá trị. Ở những ngôi làng gần đấy, họ cũng tìm thấy 1 hố dài 1,5 m gốm và sâu 2 m, đây được cho là những trung tâm gốm sứ phát triển dưới thời Trần và đầu thời Lê; Vũ Ngọc Linh, Làng cổ truyền Việt Nam, (Hà Nội: Thanh Niên, 2004), tr. 227 - 228. Những ngôi làng này ngày nay chỉ trồng lúa còn kỹ nghệ sản xuất gốm đã bị thất truyền hàng trăm năm (tr. 323).
[55] Về những ngôi chùa xem Đỗ Văn Ninh, Huyện đảo Vân Đồn, (Vân Đồn: Ủy ban Nhân dân huyện, 1997), tr. 177 - 99). Gốm sứ được tìm thấy ở Hội An trên những con tàu đắm thuộc Cù Lao Chàm được thừa nhận rằng có nguồn gốc ở Chu Đậu, được vận chuyển theo đường sông đến Vân Đồn hoặc một số cảng thị ở vùng vịnh Bắc Bộ, sau đó được vận chuyển lên những chiếc thuyền mành vượt đại dương; A sunken ship at Hoi An: Treausures from the Hoi An hoard (Butterfield, 2000) tr. x.
[56] Momoki, “Đại Việt”, pp 2 - 3.
[57] Kishimoto Mio, “The Nanhai trade and the structure of the Qing economy during the 18th century”, Proceeding of the 13th International Association of Historians of Asia Conference, 1994, tr. 2.
[58] Wang, Nanhai trade, tr. 48 - 53.
[59] Tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến Victor Lieberman về những luận điểm quan trọng này; về vị trí kinh tế của các ngôi chùa xem Strange parallels, tr. 95 - 96; và Richard O’ Connor , “Sukhothai: Rule, religion and elite rivalry”, trong The Ram Khamhaeng controvesy, biên tập bởi James Chamberlain (Bangkok: Siam Society, 1991), tr. 288 - 91.
[60] Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự và Phạm Ngọc Long, Chùa Việt Nam; Buddhist temples (Hà Nội: Social Sciences Publing House, 1993), tr. 206 - 19 (Trúc Lâm) và 110 (Quỳnh Lâm). Chỉ riêng năm 1329, quý tộc Trần đúc 1300 tượng Phật, và năm 1324 họ đúc 1000 bức khác; Khảo cổ học Việt Nam, Hà Văn Tấn (chủ biên), vol III (Hà Nội: Khoa học xã hội, 2002), tr. 150.
[61] Wang, Nanhai trade, tr. 48.
[62] Michael Vickery, “Cambodia and its neighbours in the 15th century”, Working Paper no. 27, Asia Rersearch Intitute , Singapore (2004), tr. 6; Mabbet, “Buddhism in Champa”, tr. 304.
[63] Whitmore, “Rise of coast”; Sự mô tả về Thiên Trường trích từ Lê Trắc, An Nam chí lược, juan 1, tr. 19. Về nguồn gốc ven biển của nhà Trần xem Toàn thư, 6: 7a.
[64] Momoki Shiro, “A short introduction to Champa studies”, trong The dry areas in Southeast Asia: Harsh or benign environment, chủ biên Fukui Hayao (Kyoto: Centre for Southeast Asian Studies, Kyoto University, 1999), tr. 70. Trong bối cảnh Đông Nam Á mô hình sông nước được áp dụng đối với Srivijaya và Champa; xem Hall, Maritime trade, đặc biệt ở chương 4, tr. 190 - 3.
[65] Lieberman, Strange parallels, tr. 357, những ghi chép đáng chú ý của cung điện người Việt đối với các vị thần và nghi lễ tôn giáo Ấn Độ. Tôi thu được những hiểu biết về Khảo cổ học Champa tại một khu vực khai quật ở miền Trung Việt Nam năm 1998 cùng với một số nghiên cứu của Prof. Fukui Hayao, đến đó tôi cảm thấy rất may mắn. Tôi cũng xin gửi lời cám ơn đến Momoki Shiro và Nguyễn Tiến Đông về những gợi mở của họ đối với bài viết này và Viện khoa học xã hội Việt Nam đã tạo điều kiện cho tôi đến các địa điểm khai quật ở Hà Nội tháng 5 - 2004.
[66] Đây là vùng được xác định nằm giữa các tỉnh Nam Định, Ninh Bình và Hưng Yên ngày nay; xem Việt sử lược, 3: 17b, 18b.
[67] Zhou, Lingwang daida, tr. 196; Mao Qiling, Mansi hezhi (Một báo cáo hoàn chỉnh về người dân tộc và thể chế của họ), trong Siku quanshu cunmu congshu, History 227 (Taipei: Zhuangyan wenhua Shiye, 1996), juan 15, tr. 698.
[68] Vũ Tự Lập, Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Hồng, (Hà Nội: Khoa học xã hội, 1991), tr. 160; Đại Nam nhất thống chí, vol III (Huế: Thuận Hóa, 1992), tr. 334
[69] Yan Congjian, Shuyu zhouzi lu (Những ghi chép về các quốc gia láng giềng), (Bắc Kinh: Zhonghua Shuju, 1993), tr. 233; sự bày tỏ của Mạc Kính Thự đến triều đình Qing “Tổ tiên của tôi là người làng Chaxiang, huyện Dongguan, Quảng Đông (Guangdong)”, (Beijing National Archives No. 1, vol. 7775, no. 25)
[70] Yaolu (Ghi chép về người Yao), juan 69, trích từ Gudai Zhong – Yue guanxishi ziliao xuanbian (Tài liệu chính yếu về quan hệ lịch sử Việt - Trung), (Bắc Kinh: Zhongguo Shehui Kexue Chubanshe, 1982), tr. 242 - 243
[71] Toàn thư, 7: 41b; Lieberman, Strange parallels, tr. 362. Cuộc tấn công của Mông Cổ ở Yuanshi, “An Nam”, juan 209. Bức tranh tổng thể giống như đồng bằng sông Mekong ngày nay, nơi mà người Việt hòa đồng với người Khmer, Chăm, và người Hoa, và phân bố các nhân tố văn hóa; Philip Taylor, “The ethnicity of efficacy: Vietnamese goddess worship and the encoding of popular histories”, Asian Ethnicity, 3, 2 (2002): 85 - 102.
[72] Toàn thư, 5: 1a; Truyền thuyết người Hoa ở Qidong yeyu, trích từ Gudai Zhong – Yue guanxishi, tr. 187 - 88
[73] Whitmore (“Elephants can actually swim”, tr. 131) đã biện luận rằng “đó không phải là điều quá ngạc nhiên nếu nhà Trần trở lại vùng thương mại và kết nối với người Hoa để phát triển quyền lực của mình. Họ thâm nhập vào hoàng cung qua kết hôn với hoàng tộc.”
[74] Lịch sử Việt Nam thế kỷ X - đầu thế kỷ XV, (Hà Nội: Khoa học xã hội, 2002), tr. 212 - 13.
[75] Theo dân gian: “Tháng Tám giỗ cha, tháng Ba giỗ mẹ”.
 
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Tin Bộ GD-DT

Lễ trao thưởng cho các học viên xuất sắc GYBM khóa 5 giai đoạn sơ cấp
(ĐHVHHN) – Sau 3 tháng học tập, 97 học viên GYMB khóa 5 đã vượt qua giai đoạn sơ cấp, với những thành công bước đầu. Chiều ngày 11/12/2015, Trường Đại học Văn...

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 21


Hôm nayHôm nay : 2382

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 59748

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1434030

Tin tổng hợp Xem tất cá các tin tổng hợp
Đăng lúc: 24-05-2016 09:51:02 PM
Đăng lúc: 24-05-2016 09:50:42 PM
Đăng lúc: 24-05-2016 09:50:25 PM
Đăng lúc: 24-05-2016 09:50:04 PM
Đăng lúc: 24-05-2016 09:49:46 PM
Đăng lúc: 24-05-2016 09:49:26 PM
Đăng lúc: 24-05-2016 09:49:05 PM
Đăng lúc: 24-05-2016 09:48:45 PM
Thông tin bản quyền
    + TRƯỜNG THPT VÕ TRƯỜNG TOẢN
    + Đ/C: Cẩm Mỹ , Đồng Nai